Người Nam Kỳ không lập gia phả!

0 bình luận






Người Nam Kỳ không lập gia phả!


Đó là một câu khẳng định chắc như đinh đinh đóng cột nhà.


Gia phả là gì? 家譜 gia phả hoặc gia phổ là phả hệ của một dòng họ, gia đình, là cuốn sách chép tên ông bà tổ tiên, con cháu của một dòng tộc nào đó.


Người Bắc Kỳ xưa rày ta nghe tới là thói "lũy tre làng", có gia phả, có dòng tộc nghiêm ngặc, có trưởng tộc, có nhà thờ tổ, mả tổ, thủy tổ và những quy định ná thở với con cháu. Nhưng với dân Nam thì không có, hoặc có hời hợt, hình thức.


Dân Nam Kỳ có câu cười Bắc Kỳ là "Tổ tiên đại bác thụt chưa tới!”


Chúng ta biết tổ tiên khai phá dựng lên Nam Kỳ Lục Tỉnh là dân khai hoang, kêu là lưu dân.


流民 lưu dân là dân phiêu lưu, dân đi xa, dân bỏ làng quê gốc mà ra đi.


Đó là người Ngũ Quảng: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (Huế), Quảng Nam, Quảng Ngãi, hiệp cùng người Minh Hương, đồng hóa người Khmer, người bổn địa Stieng... mà trộn ra dân Nam Kỳ ngày nay.


Đó là dân nghèo rách nát, dân bị lưu đày, bị truy nã, bị làng ruồng bỏ, gái chửa hoang, học trò thất chí, quan bị biếm chức, người thích phiêu lưu, giang hồ lãng tử...


"Tới Cà Mau - Rạch Giá
Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mù như sương
Thân không là lính thú
Sao chưa về cố hương?"
(Sơn Nam)


Xa hơn dân Ngũ Quảng là những người ở mạn Bắc di cư theo chúa Nguyễn Hoàng vô Trung Kỳ mà Phạm Duy tả là "Gió tiễn người về đến quê hương câu ca giọng Hời."


“Mộng ngoài biên giới mơ hồ
Chẳng ngăn được sóng vỡ bờ
Với đêm mờ hồn về trên Tháp ma.”


Rồi thời chúa Nguyễn, lưu dân Việt từ Ngũ Quảng theo bà Ngọc Vạn vô Mô Xoài, Đồng Nai:


“Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định Đồng Nai thì về.”


嘉定 Gia Định là nơi đô hội, trù phú nhứt Nam Kỳ, có nghĩa là định cư nơi an ổn, phước lớn.


Là những lưu dân tạo ra hợp chúng quốc Nam Kỳ, ông bà chúng ta tạo ra một nền văn hóa đặc trưng riêng của Nam Kỳ mà nhìn lại có phần khác ngoài Trung, đối lập với ngoài Bắc.


Thí dụ Bắc ăn bánh chưng cắt 8 miếng hình trụ nhọn, Nam Kỳ ăn bánh tét - tét ra khoanh tròn; Bắc Kỳ uống trà kêu uống chè, Nam Kỳ kêu trà.


Văn hóa Bắc là lũy tre làng bốn góc chôn chặc cái làng ở giữa, làng nào sống kiểu làng đó, cấm giao lưu trai gái, có hương ước ngặc nghèo, có thầy Lý hắc cám, có con Thị Màu lẳng lơ, có chị Dậu bế tắc, có những người con gái chửa hoang bị cạo đầu bôi vôi thả bè chuối trôi sông...


Nam Kỳ khác Bắc phần nhiều!


Nam sống mở, làng của Nam dựa vô mé sông, giao lưu với làng khác bằng ghe xuồng, bằng những con lộ; người Nam luôn mời khách xa xôi vô ở chung, giúp đỡ nhau cùng an cư vui vẻ, gái làng thích lấy trai xa xứ và thương chồng đứt ruột đứt gan vì cái quá khứ "trôi sông lạc chợ" đó.


“Rồng chầu ngoài Huế ngựa tế Đồng Nai
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài
Thương người quân tử lạc loài tới đây,
Tới đây thì ở lại đây
Bao giờ bén rễ xanh cây sẽ về.”


Gái Nam Kỳ chịu chơi, dám theo người mình yêu, dám nhận hậu quả do tình yêu đó đem lại.


“Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam
Ví dầu tình có dở dang
Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp dzìa.”


Ông bà tổ tiên Nam Kỳ mình quá hãi hùng ở đất Bắc hắc ám nên vô Nam bỏ tục gần hết.


Họ không muốn con cháu họ phải sống cái cảnh mõ làng rùng rợn phiên xử "hương ước" ở đình làng như ngoài Bắc!


Làng xóm Nam Kỳ không có hương ước, lệ làng, làng Nam Kỳ là làng mở,nhưng có những luật bất thành văn, mọi người phải tôn trọng, làng Nam Kỳ tuân luật triều đình, tôn trọng quan chủ quận, tri huyện.


Thành ra gái Nam thất tiết thì bị gia đình xử bằng cách đuổi ra khỏi nhà, nhưng đuổi là thủ tục thôi vì lén nhét tiền của cho nó đi trốn khuất mắt một thời gian, hoặc đày nó xuống nhà sau cấm ló mặt lên nhà trước trong một hai năm, hoặc ra vườn sau cất nhà mà ở. Hết thời gian đó cô gái sống lại bình thường, con cháu máu mủ mình mà!


Nên ai làm phim làm cạo đầu bôi vôi, thả bè chuối trôi sông, thả rọ heo xuống sống, quăng người xuống giếng là không hiểu gì về văn hóa Nam Kỳ. Tổ tiên Nam Kỳ chúng tôi chưa bao giờ có ý nghĩ đó trong đầu với con cháu mình.


Người Nam Kỳ không lập gia phả, vì sao?


Đừng bao giờ nói người Nam Kỳ là lưu dân dốt không biết chữ mà không lập gia phả.


Các bạn nghiên cứu thấy rằng Nho giáo Bắc Kỳ là đầu môi chót lưỡi, tức thể hiện bằng cái miệng; Nho giáo Nam Kỳ thể hiện bằng cách sống.


Có ai đó nói “Người Bắc cao đạo một cách ngây ngô còn người Nam thì thực tế một cách trần trụi.”


Cái chữ trần trụi hơi quá, nhưng những quy tắc bất thành văn ở Nam Kỳ nó vô hình dữ lắm nha, thí dụ dân Nam Kỳ mời bạn ăn cơm, mà bạn ăn hỗn trong mâm cơm quá, họ không nói, nhưng lần sau sẽ không mời. Người Nam Kỳ luôn để khách tự giác và không nhắc nhở.


Trong làng Nam Kỳ vẫn có người biết chữ Nho, sau là chữ Quốc Ngữ, nên biết chữ Quốc Ngữ được dạy ở Nam Kỳ đầu tiên.


Nhìn đền chùa, miếu mạo Nam Kỳ xưa đi, hoành phi câu đối rất nhiều, đó là bằng chứng.


Không viết gia phả vì thấy không cần thiết. Một xã hội mở thì không cần gia phả.


Xưa đất rộng người thưa, con cháu đi tứ tán, ở nhà toàn nhờ láng giếng gần đó, có câu “Bán họ hàng xa mua láng giềng gần.”

Là dân gốc lưu dân, dân Nam muốn xóa bỏ quá khứ hãi hùng từ Bắc Kỳ và Trung Kỳ.


Cách xưng hô “anh Cả” ở Bắc so với “anh Hai” ở Nam là điển hình.


Rất nhiều người đặt câu hỏi tại sao người Nam gọi “anh Cả”, “chị Cả” (người con trưởng, theo cách gọi miền Bắc) là “anh Hai”, “chị Hai”?


Nhiều người giải thích rằng thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng dân ở Bắc vào khai phá vùng đất Phương Nam, rằng trong đoàn quân Nam tiến lúc đó, hầu như không có ai là “anh Cả”, vì đi mở cõi thì nguy hiểm,theo tục Bắc phải để người con trưởng ở lại để phụng dưỡng cha mẹ và chăm sóc mộ phần tổ tiên; những người ra đi đều là con thứ.


Nói vậy không trúng!


Có những gia đình họ ôm cả nhà cả dòng họ của họ vô Nam kìa.


Chuyện anh hai ở Nam Kỳ là chuyện đặc trưng, không thể giải thích là ông cả cọp gì đó mà sợ nên Nam Kỳ tránh "Anh Cả". Vậy chứ ông Hương Cả thì sao? Nam Kỳ có Hương Cả trong ban hội tề.


Đơn giản người Nam cố tình làm cho khác Bắc Kỳ khi bỏ cả, chỉ gọi người lớn là anh hai, chị hai.


Bỏ chữ cả là một dạng dứt áo, cắt đứt với hương ước, lũy tre làng, với họ tộc kinh hoàng kiểu Bắc Kỳ.


Ông Hương Cả trong Nam đâu có quyền hành gì,!chỉ tượng trưng, và là cả duy nhứt trong Nam, có lẽ là một chút hoài vọng.


Người Bắc thừa tự là con trưởng, nhưng thừa tự, cúng kiếng trong Nam là con trai út. Nam Kỳ rất thực tế, thằng út lúc nào cũng trẻ trung, nó sẽ gánh vác gia đình ở mức hăng hái, thằng hai thì già chát, nhỏ hơn cha mẹ không nhiều gánh gì nổi!


Câu "Giàu út ăn nghèo út chịu" cũng của Nam Kỳ đưa ra.


Thằng út giữ hương hỏa trong nhà, nhưng vẫn không hạ bệ thằng anh hai nha.


Bằng chứng là trong những ngày giỗ chạp, cúng kiếng tổ tiên, đám cưới thì ông anh hai vẫn đứng ra tế lễ, thằng út đứng sau lưng anh hai.


Trong họ tộc thì người thứ hai vẫn mang tiếng người đứng đầu, đám cưới thưa gửi là ông bác hai hết thảy. Ông này chết thì ông bác ba lên thế.


Nhưng anh hai làm lễ thôi, anh hai không có quyền xen vô chuyện cúng kiếng của thằng út như cúng lớn, cúng nhỏ, cúng ra làm sao. Nam Kỳ chia quyền hết là ở đây.


Ngày nay Nam Kỳ thực tế luôn ở kiểu chia bàn thờ, anh hai giỗ cha, út giỗ mẹ. Tới ngày tụ lại hai nhà vui vẻ.


Không gia phả, không họ tộc, không có khái niệm nhà thờ tổ, nhưng Nam Kỳ mặc định nhà thằng Út là nhà thờ tổ, tức là nhà nào mà cha mẹ, ông bà chết và thờ là nhà tổ.


Ông nào giữ hương hỏa có nghĩa vụ làm đám giỗ, không có quyền chỉ trỏ, ra lịnh này nọ nghĩa vụ với con cháu như tộc trưởng ngoài Bắc.


Con cháu trong Nam sướng là vậy, cứ về ăn đám giỗ, giàu mua đồ nhiều, nghèo mua đồ ít, không ai dám nói.


Với bản chất trọng người sống, kỉnh người chết ở mức tượng trưng, việc cúng kiếng Nam Kỳ cũng khác Bắc Kỳ.


Thường giữa nhà người Nam đặt cái bàn thờ 九玄七祖 "Cửu Huyền Thất Tổ" tức "7 đời tổ tiên trên chín tầng trời."


Nhưng thực ra người miền Nam cúng giỗ chỉ 3 đời tới ông cố bà cố thôi, hết 3 hoặc 4 đời là không cúng kiếng gì nữa.


Có câu: 五代埋神主 “Ngũ đại mai thần chủ" (Đến 5 đời thì chôn thần chủ), tức đem bài vị chôn hoặc đốt, nhập lại làm một gọi là "Cửu huyền thất tổ' và giỗ chung tượng trưng.


"Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ
Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha.”


Cái đình Nam Kỳ rất chan hòa, vui vẻ, là nơi dân làng tụ hợp lại cúng thành hoàng rồi ăn uống vui chơi, coi hát bội. Nó như một cái sân khấu.


Gánh hát về đình là niềm vui bất tận của người Nam Kỳ.


Nam Kỳ không có thằng mỏ tay chưn của lý trưởng, không có cảnh phạt vạ kiểu Thị Mầu.


Trong cái làng Nam Kỳ có nhà việc là chỗ làm việc của làng, tra án ở đó, không mang vô đình như Bắc Kỳ.


Coi 'Con nhà nghèo', bà Cai Hiếu đòi đóng gông Ba Cam thì Hương Quản đáp lại: “Tôi đang tra án nó, mà thủa nay làng tôi có gông đâu mà đóng.”


Là gốc lưu dân, không viết gia phả, không lập họ tộc, không lập lũy tre làng, không có ông lý trưởng hét ra lửa.


Để ý coi đi trong đám giỗ Nam Kỳ luôn cúng một mâm ngoài sân nhà, đó là mâm cúng lề, cúng những người khai hoang bỏ mình hồi xưa. Sau 1975, “họ” kêu "mâm chiến sĩ".


Tất cả các miếu, am, và bàn thông thiên Nam Kỳ đều có cúng mấy hủ muối, gạo và nước, có nơi cúng bó củi.


Đó là cúng tổ tiên gốc lưu dân của mình hồi xưa.


Người Nam Kỳ cúng lề, cúng đất, cúng cô hồn.


Cúng tổ tiên Nam Kỳ chung là ngày 25 tháng Chạp, khi con cháu tụ về dẫy mả, tảo mộ. Họ sẽ làm mâm cơm cúng ở nhà, thường là nấu cháo gà, cháo vịt.


Tục thờ ông bà ở Nam Kỳ rất đơn giản, chỉ ba bốn đời, nhưng không được bỏ bàn thờ tổ tiên.


Đồ Chiểu chửi rằng: “Sống làm chi theo quân tả đạo-Quăng vùa hương đạp bàn độc thấy lại thêm buồn.”


Xưa nam Kỳ có cái bàn thờ và giường thờ.


Người Pháp qua, đem qua Nam Kỳ cái tủ chén đứng kiểu thời Louis XVI, không cao không thấp, trước tiên là ở xứ Thủ Dầu Một, sau thợ Gò Công sáng tạo đóng cái tủ thờ dựa trên nguyên lý ráp mộng đi khung của tủ kiểu Pháp, nhưng cải tiến theo phong tục Nam.


Từ đó, cái tủ thờ này là đặc trưng Nam Kỳ Lục Tỉnh, hiệp cùng tranh kiếng nữa, ra cái hồn tổ tiên Nam kỳ mình.


Trong "Gia Định thành thông chí" của Trịnh Hoài Đức có đoạn:


"Vùng Gia Định... đất đai rộng, lương thực nhiều, không lo đói rét, nên dân ưa sống xa hoa, ít chịu súc tích, quen thói bốc rời. Người tứ xứ, nhà nào tục nấy… Gia Định có vị trí nam phương dương minh, nên người khí tiết trung dũng, trong nghĩa khinh tài…”


Đó là tánh hiếu khách, hào phóng, không câu nệ hình thức, sống thực dụng.


Dân Nam Kỳ hay đờn ca xướng hát, làm ra đờn ca tài tử và cải lương vang danh, hệ thống bài lý nhiều nhứt Việt Nam.


Người Nam Kỳ trọng tôn giáo, nhưng kiểu của họ.


Đạo Phật vô Nam biến thể, phải trộn với tín ngưỡng dân gian. Dân Nam Kỳ không phải là những tín đồ Phật giáo thuần thành.


Các phái Phật trong Nam đều là biến thể, chùa trong Nam không lớn.


Công giáo trong Nam Kỳ xưa khác ngoài Bắc, Nam không có các giáo xứ, người Công giáo Nam Kỳ hòa nhập, thế tục.


Sông rạch và đồng bằng tạo cho dân Nam Kỳ tánh khẳng khái, bộc trực, ít chịu cúi lòn, kém thủ đoạn trong chánh trị, nhưng tràn trề tình thương, biết nhìn người khác, biết cúi mình xuống với quốc gia.


Dân Nam Kỳ không những nói ngay mà hay nói lớn tiếng, thiếu trau chuốt, đôi lúc bỗ bã.


Biết cái hay cái tệ của mình để nhìn lại bản thân mình.


Và tính cho ra cách thức tồn tại của xứ sở mình trước thời cuộc.


Theo fb Nguyễn Gia Việt

Kho báu trên dòng sông Ma ở Tùng Bá, Hà Giang

0 bình luận

Bắt nguồn từ núi Ba Tiên, dòng sông Ma uốn lượn như sợi chỉ bạc quanh các dãy núi phía Bắc tỉnh Hà Giang, chảy qua xã Tùng Bá (huyện Vị Xuyên), Yên Định, Minh Ngọc (huyện Bắc Mê) rồi về hợp lưu vào dòng sông Lô huyền thoại để tiếp tục đường đi của mình. Đây là một ngọn núi có địa thế vô cùng hiểm trở, nơi cao nhất lên tới 2.535m so với mực nước biển. Nơi đây thường xuyên bị bao phủ trong mịt mù sương giá như một ma trận thâm u, bí hiểm, một khi đã lạc vào thì sẽ chẳng thể tìm được lối ra. 
Sông Ma, đoạn chảy qua xã Tùng Bá
 Truyền thuyết kể lại rằng, đó chính là nơi ở của 3 nàng tiên nữ giáng trần nên gọi là núi Tam Tiên hay núi Ba Tiên. Trên đó vẫn còn một chiếc giếng cổ quanh năm đầy nước trong vắt, được cho là thứ nước thuần khiết nhất được các nàng tiên mang xuống từ nơi tiên giới. Khi các nàng tiên này bay về trời đã có một cơn mưa bạc, mưa vàng rơi xuống, trải khắp dòng sông Ma.
Trên ngọn núi thần tiên này vẫn còn lưu truyền rất nhiều những câu chuyện kỳ lạ. Theo lời kể của các vị cao niên trong làng, một số người dân sống trong vùng từng lên núi Ba Tiên đã tận mắt nhìn thấy vô số những cây cam, quýt, chanh mọc chi chít như rừng nhưng không rõ do con người trồng hay do chúng tự mọc. Điều lạ lùng hơn nữa là mặc dù không có ai chăm sóc nhưng những cây cam, cây quýt này  quanh năm tươi tốt, mỗi khi đến mùa quả sai lúc lỉu, chín mọng đầy cành vô cùng hấp dẫn.
Nhưng dù có thèm đến mấy, đói khát đến mấy, những người đi qua khu rừng này, bất kể già, trẻ, gái trai cũng chẳng bao giờ dám động đến dù là một quả. Mặc cho cam, quýt chín vàng, họ cũng không dám hái, rụng đầy gốc họ cũng chẳng dám ăn. Quả chín rụng xuống dòng sông Ma, theo dòng trôi về xã nhưng cũng chẳng ai vớt, thậm chí trông thấy họ còn cố tránh cho xa. Hỏi ra mới biết nguyên nhân là do người trong vùng cho rằng đó là những quả ma, nếu ăn vào sẽ không tìm thấy đường về nhà.
Trong những câu chuyện của họ về dòng sông Ma bí ẩn còn có câu chuyện ly kỳ về những cây cổ thụ kỳ quái trên rừng núi đá Ba Tiên. Một vài người trong vùng đã từng đặt chân lên núi Ba Tiên quả quyết rằng họ đã tận mắt nhìn thấy vô số những cây cổ thụ với những hình dáng cổ quái chưa hề bắt gặp xưa nay. Trên những thân cây kỳ quái ấy là những đám rêu dày xanh mướt, như được mọc ra từ chính thân cây trước đó hàng thế kỷ.
Ông Vương Đức Trung, một trong những người cao tuổi nhất vùng kể lại, ngay từ thời Pháp thuộc, cái tên sông Ma đã có tên trong bản đồ hành chính của tỉnh Hà Giang. Không những thế, sông Ma còn là một cái tên luôn gây được sự chú ý. Không ít những kẻ nuôi giấc mộng "vàng" đem lòng thèm khát bởi những bí mật kho báu mà nó chứa đựng bên trong.
Suốt nhiều thế kỷ qua, từ thời phong kiến đến thời Pháp thuộc, từng đoàn người, hết đoàn nọ đến đoàn kia nối tiếp nhau đến sông Ma tìm vàng. Ai cũng tin vào những lời đồn đại rằng, dưới lòng sông, vàng thỏi, bạc thỏi lẫn trong cát, trong đá sỏi nhiều vô kể. Mỗi khi trời nắng, bạc vàng lại hắt ánh sáng lấp lánh đầy mê hoặc lên trên mặt nước khiến vô số kẻ có thể sẵn sàng nhảy ngay xuống để ôm lấy giấc mộng "vàng".
Chẳng biết họ có tìm được gì không nhưng sông Ma thì đã bị khai thác đến kiệt quệ và chẳng hiểu vì đâu năm nào cũng có một vài sinh mạng bị cướp đi trên dòng chảy bị cho là ma quái này.
Đứng ở trung tâm xã Tùng Bá nhìn về phía núi cao cách chừng 3 cây số là thác Ba Tiên tung bọt trắng xóa. Dưới chân thác chính là điểm khởi đầu của dòng sông Ma, đoạn chảy qua xã Tùng Bá, một trong những khúc sông gắn với nhiều câu chuyện ly kỳ nhất về con sông Tiền Bạc.

Núi và thác Tam Tiên nơi phác nguyên ra dòng sông Ma (còn gọi là dòng sông vàng)
Người dân nơi đây cho biết, hầu như năm nào cũng có người chết trên khúc sông này. Nhiều người đang giặt giũ hoặc đứng chơi trên bờ sông thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy xác người chết đuối bị trương phềnh ở đâu nổi lên trên mặt nước. Một số người khẳng định, chắc chắn đoạn sông đó có thuỷ quái sinh sống (?). Nó là một con cá sấu đã thành tinh vô cùng hung dữ chuyên dụ dỗ người xuống sông rồi kéo chân dìm chết. Một số khác lại cho rằng, có một lời nguyền bí ẩn có liên quan đến một chàng trai người nước ngoài. Đó là thời gian vào khoảng những năm 1990 của thế kỷ trước. 

Chuyện kể rằng lúc đó, có một chàng trai ngoại quốc đem lòng yêu say đắm một cô gái Việt Nam xinh đẹp sống trên trên vùng eo của núi Ba Tiên, nơi phác nguyên ra dòng sông Ma. Tình yêu si mê của chàng trai đáng tiếc thay lại không được cô gái kia chấp nhận dù chàng đã nhiều lần cất công lên núi tỏ tình. Vì quá si tình và đau khổ khi tình yêu bị từ chối nên chàng trai đã gieo mình xuống dòng sông tự vẫn. Trước khi chết anh ta đã thốt lên một lời nguyền bằng ngôn ngữ nước ngoài cho nên không ai hiểu được. 

Chỉ biết rằng, sau đó, sông Ma ngày càng trở nên lạnh lẽo, đáng sợ bởi thỉnh thoảng người ta lại bắt gặp một người chết bập bềnh trên sông. Có người chết cả tuần rồi, xác mới nổi lên trên mặt nước. Có những xác chết không biết từ đâu cũng dập dềnh trôi dạt về bến sông này, bỗng dưng nổi lên trên mặt nước trong nỗi sợ hãi của người dân. Không biết từ khi nào, sông Ma đã trở thành nỗi ám ảnh của hàng trăm người dân trong vùng đúng như tên gọi của nó. Trẻ con bị cấm không được bén mảng đến gần sông vì sợ bị thuồng luồng kéo chân xuống dòng nước xoáy.

Không chỉ chuyện sông Ma với nhiều bí hiểm mà xung quanh ngọn núi Ba Tiên, nơi khởi nguồn của dòng sông này cũng được lưu truyền nhiều chuyện tương tự. Người trong thôn Khuôn Phà kể rằng, nơi núi Ba Tiên trước đây có rất nhiều người chết nên mỗi khi đi qua đây một mình người ta đều cảm thấy như có hàng trăm cánh tay từ dưới đất với lên, níu chân mình lại. Người nào càng cố bước nhanh càng thấy như có người đang gấp gáp đuổi theo nhưng ngoảnh lại nhìn thì lại chẳng thấy ai. 

Vài năm trước, có đoàn người từ bên xã Thái An sang nhà người quen ở Tùng Bá chơi, đến giữa đỉnh dốc mệt quá bèn ngồi nghỉ. Trong lúc đang hoa mắt chóng mặt vì thở dốc, một vài người trong số đó bỗng nghe thấy tiếng động như ai rẽ cây bước lại gần, nhưng chẳng thấy gì cả. Không những thế, người ta còn nghe thấy cả tiếng đá lăn, cây đổ ào ào thẳng từ đỉnh đồi về phía mình, nhưng cứ cách khoảng trăm mét lại biến đi đâu mất. Cũng tại con dốc đó, có người đã vứt súng săn, lăn lóc theo sườn dốc, chạy bán sống bán chết, quần áo tả tơi vì bị cảm thấy có người "trời" đang đuổi theo mình.
Bàn về những câu chuyện chưa rõ thực hư này, ông Đán Văn Viết (trưởng công an xã Tùng Bá) cho rằng, do người dân bị ám ảnh bởi những vụ chết đuối trên sông nên đã tưởng tượng và thêu dệt thành những câu chuyện huyền bí rồi truyền tai nhau. Còn chuyện trên núi Ba Tiên cũng chỉ do người dân đi trên con đường mòn vắng vẻ, giữa cảnh rừng núi hoang vu dễ nảy sinh ảo giác gây sợ hãi cho chính mình.           

Sưu tầm

Hỏa khí

0 bình luận





Thực tế đến giai đoạn Trịnh, Nguyễn phân tranh hỏa khí đã được trang bị và sử dụng phổ biến trong hầu hết các trận đánh. Trong giới hạn của bài viết chỉ xin tóm lược về trang bị hỏa khí của nhà Nguyễn trước và đầu thời Gia Long.

Theo Đại Nam Thực Lục, từ khi chúa Nguyễn vào Nam đã sớm mưu lập quốc chống đối với nhà Trịnh nên ông rất chăm lo sắm sửa khi giới. Chúa Nguyễn cho lập xưởng đúc hỏa khí:

"Đặt ty Nội pháo tượng. Nội pháo tượng : thợ đúc súng ở trong nội và hai đội Tả Hữu pháo tượng.. Việc đúc đại bác, mỗi khẩu dùng 12 khối sắt, 10 cân gang, tiền than 3 quan 5 tiền. Đúc súng tay thì cứ 10 cây dùng 30 khối sắt, 30 cân gang, 10 quan tiền than)."

Rồi lập trường bắn, đặt lệ luyện quân:

"Phú Vang làm trường thao diễn thủy quân ở xã Hoằng Phước (tức xã Hồng Phước, thuộc huyện Phú Vang bây giờ), đắp núi đất cao hơn 30 thước, rộng hơn 150 thước, cứ đến kỳ tháng 7 thì thao diễn phép bơi chèo và bắn súng, ai trúng thì thưởng vàng lụa. Từ đấy trở đi thủy quân đều tinh luyện."

Đến khi Tây Sơn khởi nghĩa, phong trào "nông dân" này cũng không hề trang bị kém cỏi:

"Chúa ra lệnh đưa xa giá lánh đi. Lý Tài chia quân làm bốn đạo, thúc trống tiến lên. Đông cung sai người mở cờ làm hiệu, cờ có sáu chữ: “Đông cung phụng mệnh chiêu an”. Quân Lý Tài trông thấy, bỏ súng lạy rạp, tiếng hoan hô như sấm, rồi rước Đông cung về Dầu Mít. ở vài ngày, Đông cung sai Nội tả Nguyễn Mẫn đi Sài Gòn úy dụ quan quân, chiêu an dân chúng."

Có thể thấy thay vì bỏ "gươm, giáo" thì quân Lý Tài bỏ "súng" điều đó chứng tỏ súng đã trở thành vũ khí cơ bản trong thời kỳ này.

Đến khi Nguyễn Thế Tổ bôn tẩu, ngài ngự cũng cầm súng xông trận:

"Vua mặc áo chiến đội nón chiến đứng ở đầu thuyền, vẫy quân đánh gấp. Giặc nhắm đầu thuyền bắn, gẫy cả cột buồm, quân sĩ đều thất sắc ; vua đứng yên không động, tay cầm súng chim bắn lại thuyền giặc, và hạ lệnh cho quân sĩ vừa đánh vừa lùi."

Và ngài ngự là một tay xạ thủ "bách phát, bách trúng":

"Vua ra trận giỏi dùng súng chim. Mỗi khi đánh nhau với giặc hễ bắn là trúng, người ta đều cho rằng được trời giúp. Khoảng năm Minh Mệnh đặt tên súng ấy là Võ công lương khí, cất giữ với áo chiến và nón chiến."

Cũng có lúc đánh trận súng đạn thiếu thốn thì ngài cũng giỏi xoay sở miễn sao luôn có đủ súng đạn:

"Vua tiến đóng ở Hồi Oa, sai các tướng đắp thành đất, Hoàng Văn Khánh và Tống Phước Ngạn đóng bên tả, Nguyễn Văn Trương và Tô Văn Đoài đóng bên hữu, đối lũy với giặc, đánh vất vả luôn mấy ngày. Bèn sai chế thêm súng gỗ và kết hột cau khô làm đạn, dùng để đánh giặc. Giặc phải rút lui."

Hoặc mua súng đạn của người Tây Dương:

"Người nước Bút Tu Kê (Bồ Đào Nha (Portugal)) tên là Chu Di Nô Nhi đến buôn bán, nhân đó vua sai gửi thư cho quốc trưởng nước ấy để mua binh khí. (1 vạn cây súng chim, 2.000 cỗ súng gang, mỗi cỗ nặng 100 cân, 2.000 viên đạn nổ, đường kính 10 tấc)."

Ngài ngự sai lập xưởng đúc súng, sắm sửa khí giới nhiều đến nỗi vua Xiêm dù là đồng minh cũng sợ ông nổi hứng trở cờ:

"Trước là phụ chính Chân Lạp là Chiêu Chủy Biện vì cớ ta sai người giữ Ba Xắc nên không được tự chuyên, trong lòng để giận ngầm, nói với vua Xiêm rằng nước ta đương trị binh đúc súng, muốn mưu đánh nước Xiêm. Vua Xiêm ngờ, định ngày cất quân sang xâm lấn. Vua nghe tin, bèn làm thư sai bọn Nhàn đưa cho vua Xiêm. Vua Xiêm nhận được thư, bèn thôi."

Súng không chỉ trang bị cho quân đội, ngài ngự còn đặc biệt lấy súng làm tặng phẩm ngoại giao hoặc ban thưởng cho các vị võ tướng:

"Có Võ Văn Sở là người thượng đạo Phú Yên tụ họp quân Man, đi theo Võ Văn Lượng và Mai Tiến Vạn đánh phá đồn và trận của giặc, chém được đô đốc Phượng. Quân giặc tán loạn, vứt bỏ khí giới lương thực mà chạy. Bọn Nguyên lùi giữ chợ Hội An. Vua nghe tin, khen ngợi, cho Sở làm Khâm sai cai cơ, ban cho một cây súng cò đá lửa của Tây Dương, một thanh gươm đầu hổ, một tấm nhiễu đỏ, một chiếc áo chiến bằng trừu bách hoa, 100 quan tiền."

"Hạ lệnh cho Lê Chất về Bắc Thành. Cho súng mạ vàng, gươm mạ vàng, gươm mạ bạc của Tây Dương, mỗi thứ hai cái, và phát 20 thớt voi ở Kinh cho theo đi thú."

Sơ lược như vậy đủ thấy vì sao thời này áo giáp trở thành thứ yếu, hoặc trang bị nếu có thường là giáp nhẹ
--
Bài và ảnh của Phan Thanh Nam

Trấn dương thất bảo - ​Võ Hương An

0 bình luận









​Võ Hương An: Chuyện Đà Nẵng chưa ai kể

Võ Hương An, tên thật là Võ Văn Dật, sinh trưởng tại Huế, cựu sinh viên Đại Học Sư Phạm ngành Cao Học Sử Học, Cựu Giám học và Thanh tra Giám Sát Viện, bị quân cộng sản bắt đi tù từ tháng 3/1975, định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1991.
Ông là tác giả của nhiều tác phẩm biên khảo Sử học và văn hóa, đã xuất bản, dưới tên thật và bút hiệu: Huế của một thời (Nam Việt, USA, 2006); Lịch sử Đà Nẵng (Nam Việt, USA, 2007); Từ điển Nhà Nguyễn (Nam Việt, USA, 2012); Trong ngõ ngách sử học (Nam Việt, USA, 2015)...


Khi bắt tay viết về lịch sử Đà Nẵng, tôi thực không ngờ rằng cái vùng đất nhỏ bé này lại có nhiều chuyện lý thú , rất đáng để bỏ công tìm hiểu đến thế, và do đó , việc này đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm, nhiều gắn bó với đất với người của một miền đất nước đã nuôi gia đình tôi trong hơn hai mươi năm . . . Chẳng hạn chuyện Đảo Cô và chuyện Quan lớn Bảo hộ. . .


Đảo Cô ở đâu?

​​Sau cuộc nổ súng thị uy của hai tàu Pháp là Gloire và Victorieuse tại vịnh Đà Nẵng vào ngày 15-4-1847, vua Thiệu Trị ra lệnh tăng cường phòng thủ Đà Nẵng bằng bảy pháo đài xây dựng ở bán đảo Sơn Trà với tên gọi là Trấn dương Thất bảo.

Trong bảy pháo đài đó, theo Đại Nam Nhất Thống Chí (quyển Quảng Nam) thì đảo thứ hai được đặt trên đảo Cô với tường cao 4 thước 3 tấc (chừng hơn 2m) và chu vi 41 trượng (164m). Khi đọc được những dòng này, tôi tự nhủ: Ủa, trong vịnh Đà Nẵng mà cũng có một hòn đảo tên là đảo Cô sao?? Sao mình không thấy mà cũng không nghe ai nói tới? Bèn vội vã đi tìm bản đồ để xác định vị trí, nhưng thất vọng vì chả thấy gì cả. Lại đoán già đoán non rằng hẳn bản đồ mình sử dụng có tỷ lệ nhỏ (1/100,000) mà hòn đảo cũng không lấy gì làm lớn nên chẳng có dấu vết nào, bèn đi kiếm bản đồ có tỷ lệ lớn hơn (1/25,000) với hy vọng sẽ tìm ra cái hòn đảo lần đầu tiên mới được nghe tên đó. Lại thất vọng. Từ đó tôi bắt đầu một cuộc truy tầm bằng mọi phương cách, vừa tìm tài liệu và bản đồ để đọc thêm, vừa phỏng vấn những người lớn tuổi ở địa phương khi có dịp, với hy vọng nắm bắt được một manh mối nào đó.

Hơn một năm trời trôi qua trong vô ích. Một hôm, vì nhiệm vụ, tôi phải tiếp xúc với hai nhân chứng, cụ Nguyễn văn Trách và cụ Đỗ Trọng Khai tự Bút, vốn là hào lão của làng An Hải, đều thuộc dòng dõi đã lập nghiệp ở địa phương từ trước đời Gia Long (1802-1820). Xong việc giấy tờ, tôi cầm hai ông cụ nán lại một chút và mở cuộc mạn đàm bỏ túi:

-Hai cụ ở đây lâu, vậy có biết trong vịnh Đà Nẵng có hòn đảo nào tên là đảo Cô không?

-Biết chớ. Đảo Cô là cái hòn đảo nho nhỏ nằm ở Sơn Trà chớ đâu.

Nói làm sao cho xiết nổi ngạc nhiên và sung sướng của tôi lúc đó. Tôi thầm đùa với chính mình: sao mà hên thế, đào đất cầu âu mà lại trúng ngay mạch vàng. Tôi vội vã mang bản đồ Đà Nẵng trãi ra bàn, tay chỉ miệng nói:

-Đây là Đà Nẵng của mình đây. Làng An Hải của hai cụ đây nè. . . Vịnh Đà Nẵng là đây. . . Sơn Trà là đây. . . Vậy chớ cái đảo Cô mà hai cụ nói nằm ở mô?

Cụ Khai lần ngón tay trên bản đồ rồi dừng lại ở vị trí Bộ chỉ huy Hải khu I ( Trại Chương Dương, trước 1975) và nói: "Nó đây nè" và đưa mắt nhìn cụ Trách như tham khảo ý kiến. Ông này gật đầu: “Đúng rồi đó” Tôi buột miệng hỏi:

-Đảo đâu mà đảo, chỗ này nối với đất liền mà.

-Thì nó nguyên là hòn đảo nhưng theo ông tôi kể lại thì vua Gia Long cho đắp một con đường nhỏ bằng đá để tiện đi lại canh phòng, sau Tây đắp rộng thêm, rồi Mỹ lấp vịnh thành đất liền, làm sao thấy ra hòn đảo nữa.

À ra thế! Từ đầu mối đó, kết hợp với những tài liệu của Tây, ta, tôi có thể vẽ ra lý lịch của đảo Cô như sau: ở phía Tây chân núi Sơn Trà có một mõm đất nhô ra khá lớn, dân địa phương gọi là núi Mõ Diều, Đại Nam Nhất Thống Chí gọi là đảo Mõ Diều. Phía Nam của Mỏ Diều , cách một vịnh nhỏ, có một hòn đảo con nằm trơ trọi một mình, đó là đảo Cô.

Từ đời Gia Long , vua cho đắp một con đường đá nối đảo Cô với chân bán đảo Sơn Trà để tiện đi lại canh phòng. Đời Thiệu Trị đã xây một pháo đài trên đó, thuộc hệ thống Trấn dương Thất bảo.

Trong cuộc xâm lăng Đà Nẵng vào các năm 1858-1860, Pháp đã chiếm đảo này, đặt tên là l’Îlot de l’ Observatoire (đảo Quan sát), thường gọi tắt là l’Îlot (xem hình). Công binh Pháp đã cho phá hũy pháo đài của vua Thiệu Trị và xây một pháo đài khác, đặt tên là Fort de l’Observatoire (Pháo đài quan sát), đồng thời họ cũng đắp rộng thêm con đường đá cũ để tiện đi lại. Vị trí này, trước 1975, là Bộ Tư lệnh Hải khu I (Trại Chương Dương). Năm 1965, công binh Hoa Kỳ đã lấp cái vịnh nhỏ, nồi liền đảo Cô và núi Mỏ Diều, thành ra không còn dấu vết gì để nhận ra đó là một hòn đảo nữa. Quả thật là chuyện vật đổi sao dời, đời nào cũng có.

Chuyện Quan lớn Bảo hộ

Vụ giúp xác định đảo Cô là bước mở đầu mối giao tình giữa tôi và các cụ Trách, cụ Bút nói riêng và làng An Hải nói chung, từ đó dẫn đến những khám phá lý thú khác.
Sau lần tiếp xúc với các cụ tại chỗ làm việc, thời gian sau, cho đến ngày tan hàng rả đám năm 1975, những lúc rảnh rổi, từ cư xá nằm ở ngã tư Độc lập-Thống nhất, tôi thường thả bộ xuống bến phà máy Sông Hàn để qua làng An Hải thăm hỏi, chuyện trò cùng các cụ, nhất là cụ Bút, vì tôi đoán rằng còn có thể học hỏi nhiều ở các cụ nữa. Ngay lần viếng thăm đầu tiên, tôi hỏi cụ Bút:

-Làng An Hải có di tích gì cổ xưa không cụ?

-Có chớ. Có lăng Quan lớn Bảo hộ mà làng thờ làm hậu hiền , hàng năm cúng tế đàng hoàng vì ngài rất có công với làng.

Tôi ngạc nhiên:

-Ủa, Quan lớn Bảo hộ là ai? Cụ có biết ngài húy là chi không? Nếu biết được thì nói để tôi tra cứu trong sử sách coi sự nghiệp của ngài ra sao.

, tôi vô tâm quá. cứ theo ông bà đời trước mà gọi, chưa bao giờ hỏi cha tôi hay ông tôi ngài húy là chi, nhưng theo đời trước truyền lại thì ngài làm quan lớn lắm. . . À, thầy có đọc được chữ Nho (Hán) không? Trong giấy tờ do ông tôi để lại, có tờ trát của quan lớn Bảo hộ gởi cho làng, rồi làng giao cho ông tôi giữ, có chức tước của ngài nhưng không có húy. Để tôi lục cho thầy coi, may ra biết ngài là ai.

Tôi đáp:

-Vâng, thế thì tốt quá. Chữ Nho tôi chỉ đọc được lõm bõm nhưng tôi có ông bác thông Nho lắm, thành ra cụ khỏi lo.

Sau một hồi lục lọi trong chiếc rương gỗ mộc, cụ Bút lôi ra một tờ giấy bản sờn rách nhiều chỗ ngoài mép và đưa cho tôi. Đọc lõm bõm, tôi tạm hiểu rằng tờ giấy này là một tài liệu hiếm, có liên quan đến Thoại Ngọc Hầu. Tôi ngỏ ý xin mượn, cụ đồng ý ngay.

Về nhà, tôi vội lấy xe đi đến nhà cụ Nguyễn Văn Luân, Đốc sự thượng hạng hưu trí, bạn của nhạc gia tôi, mang theo tài liệu chữ Hán vừa mượn được. May mắn, ông cụ không đi chơi tài bàn, đang nằm nhà đọc sách. Chìa tờ giấy ra, tôi nói:

-Nhờ bác đọc và dịch cho con tài liệu này. Con cần lắm. Bác đọc từ từ thì con ghi chép được.

Cụ Luân cầm tờ giấy liếc qua, đoạn nhìn tôi rồi hỏi:

-Tài liệu này hiếm lắm đây. anh moi đâu ra vậy?

Sau khi nghe tôi thuật sơ về xuất xứ, ông già hắng giọng:

-Nghe đây này:

“Khâm sai Thống chế án thủ Châu Đốc Đồn, lãnh bảo hộ Cao Miên Quốc ấn, kiêm quản Hà Tiên Trấn biên vụ, gia nhất cấp, kỷ lục tứ thứ, quan . . .

“Vì trát tri sự . . . “

Thì ra đó là tờ trát của Khâm sai Thống chế Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại, bấy giờ đang trấn thủ Đồn Châu Đốc, lãnh nhiệm vụ bảo hộ nước Cao Miên (thuộc địa của Việt Nam dưới triều Minh Mạng) và kiêm luôn chức Trấn thủ Hà Tiên, gởi cho xã trưởng và hào mục xã An Hải, bày tỏ sự ủng hộ nguyện vọng của bảy xã thuộc tả ngạn sông Hàn ( An Hải, Mỹ Khê, Hóa Khuê, Mỹ Thị, Phước Trường, Tân An, Nam An) muốn đoàn kết lập chợ để chống lại sự cạnh tranh của xã Hải Châu. Tờ trát đề ngày 20 tháng Tư năm Minh Mạng thứ 8, nhằm 15-5-1827 (xin xem hình dưới)

Phát giác này làm tôi ngạc nhiên muốn bật ngữa. Tôi cảm ơn cụ Luân và chỉ nói “Thật con không ngờ Thoại Ngọc Hầu lại là người quê ở An Hải, Đà Nẵng”. Thật sự thì tôi rất xúc động điều vừa khám phá, vì Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại là một khuôn mặt lớn trong lịch sử. Ông là một khai quốc công thần của vua Gia Long, tầm cở với Tả quân Lê Văn Duyệt và Trung quân Nguyễn Văn Thành, được phong tước Thoại Ngọc Hầu, là người có công khai phá miền Hậu giang, là người đã chỉ huy việc đào kinh Vĩnh Tế, nối liền Hà Tiên và Châu Đốc, một công trình vĩ đại khiến vua Minh Mạng rất đẹp ý, nên đã lấy tên vợ Bảo hộ Thoại (Châu Thị Vĩnh Tế) để đặt tên cho con kinh, lại cho khắc hình kỷ niệm vào Cao đỉnh, là đỉnh số 1 trong Cửu đỉnh của Thế miếu. Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, Châu Đốc, đâu đâu cũng có dấu vết của ông. Người ta tôn thờ và biết ơn ông. Nếu có dịp đến những nơi này, nhất là Châu Đốc, bạn sẽ thấy được Quan lớn Bảo hộ hay Bảo hộ Thoại đã để lại dấu ấn tại những địa phương đó như thế nào.


Chính vì ông đã để lại một huân nghiệp như thế nên giáo sư Nguyễn Văn Hầu đã bỏ công trong hai mươi năm sưu tập tài liệu để viết cuốn "Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang", một tác phẩm biên khảo công phu, có giá trị về mặt nhân văn và lịch sử. Tôi còn nhớ (hiện giờ tôi không có sách đó trong tay) trong chương viết về dòng dõi Thoại Ngọc Hầu, khi nói đến quê quán , tác giả chỉ ghi Nguyễn Văn Thoại là người tổng An Lưu, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, với lời chú thích, đại khái là mặc dầu đã bỏ công trong hai mươi năm để sưu tầm tài liệu (sử sách, gia phả, bi ký, bằng sắc . . .) nhưng ông cũng không thể xác định được Nguyễn Văn Thoại là người thuộc làng nào, xã nào của tỉnh Quảng Nam. Cái điều giáo sư Nguyễn Văn Hầu săn tìm trong hai mươi năm mà không gặp, nay bỗng nhiên lại tình cờ ở trong tay tôi.

Vài hôm sau, được lúc rảnh rổi, tôi lại thả bộ qua An Hải gặp lại cụ Bút. Tôi nhập đề ngay:

-Cụ ơi, tôi biết được húy của ngài rồi. Quan lớn Bảo hộ của làng An Hải thật ra lớn lắm , tầm cỡ quốc gia chứ không phải riêng chi làng An Hải đâu. .

-Đâu? Đâu? Chuyện ra răng , thầy làm ơn kể cho tui nghe coi.

Tôi trả lại tờ trát và kể lại sự tích Thoại Ngọc Hầu. Có thể từ bao lâu nay làng An Hải cảm thấy hãnh diện về Thoại Ngọc Hầu như là một thân nhân làm lớn chứ chưa biết hết cái huân nghiệp của ông đối với một miền hoang dã nhưng trù phú của đất nước. Do đó, trong câu chuyện, tôi nhấn mạnh về điểm này và ghi nhận ông cụ rất xúc động. Ông dẫn tôi đi coi đình thờ (thờ chung các hậu hiền của làng) đang được tu sửa và than phiền rằng ngân khoản eo hẹp quá, chỉ làm sơ sơ thôi chứ chưa đúng mức như ý muốn. Tôi góp ý:

-Cụ à, Quan lớn Bảo hộ không phải là một danh nhân của riêng chi làng An Hải mà còn chung cho cả Quảng Nam–Đà Nẵng nữa. Tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng phải hãnh diện có một danh nhân như vậy, nên việc tu sửa này chính quyền cũng phải góp phần giúp đỡ. Cụ và các cụ hương lão cùng ban hội tề nên có kế hoạch quyên góp mở rộng để có được ngân khoản dồi dào hơn hầu việc trùng tu được tới nơi tới chốn. Nếu các cụ làm thì tôi xin giúp một tay, chẳng giàu có chi để giúp tiền giúp bạc, nhưng sẽ giới thiệu các cụ đến những nơi hằng tâm hằng sản, những nơi mình có thể gõ cửa được.

Đề nghị này về sau đã được các cụ thực hiện và Chương Trình Khuếch Trương Đà Nẵng và Vùng Phụ Cận, do anh Nguyễn Hà Hải làm Tổng Giám đốc, là thành phần chủ lực đã giúp đỡ hoàn thành ngôi đình khá bề thế.

Ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên các cụ có đề cập đến lăng Quan lớn Bảo hộ. Nhờ đọc tác phẩm biên khảo của học giả Nguyễn Văn Hầu mà tôi biết rằng không thể có lăng của Thoại Ngọc Hầu ở An Hải, nhưng để kiểm chứng đó là lăng của ai thì mãi về sau mới có dịp.

Có dính một chút vào việc biên khảo nên tôi rất thông cảm với học giả Nguyễn Văn Hầu về nỗi buồn khi không tìm được tài liệu như ý và niềm vui, có khi còn sướng hơn bắt được vàng, khi tìm được cái muốn tìm hoặc phát hiện ra những tài liệu chưa hề được công bố. Do đó, khi nắm trong tay thông tin và tài liệu mới mẻ về Thoại Ngọc Hầu tôi đã viết một bài (lâu ngày quên mất nhan đề) định gởi cho bán nguyệt san Bách Khoa, nhưng rồi cứ phân vân mãi: nên chăng, đăng báo "lấy tiếng", hay là cung cấp tài liệu cho giáo sư Nguyễn Văn Hầu để ông có thể bổ sung tác phẩm được đầy đủ hơn, như vậy mới là thực sự cảm thông nghiệp cầm bút, dù chưa hề quen biết. Một hôm, nhân công tác ở Huế, nghe nói giáo sư bảo trợ của tôi lúc đó là giáo sư Nghiêm Thẩm đang có giảng khóa ở Đại học Văn Khoa Huế, tôi đến cư xá thăm và hỏi ông:

-Em biết thầy quen ông Nguyễn Văn Hầu. Vậy thầy có thể vui lòng cho em xin địa chỉ của ông ta được không?

-Anh xin địa chỉ của ông Hầu để làm gì?

Tôi lược thật câu chuyện và nói muốn liên lạc để cung cấp cho ông những thông tin và tài liệu vừa khám phá vì thấy ông đã đầu tư quá nhiều công sức vào tác phẩm mà vẫn chưa vừa ý, nên rất thông cảm. Giáo sư Thẩm ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:

-Theo tôi, anh nên gởi bài cho Bách Khoa.

Trở lại Đà Nẵng, tôi gởi bài. Tôi còn nhớ trong phần kết thúc có để lời nhắn đại khái rằng nếu đọc bài này mà tác giả "Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang" muốn biết thêm chi tiết thì xin liên lạc với tôi theo địa chỉ…, tôi sẵn sàng trả lời

Bài gởi đi chừng mươi ngày thì tôi nhận được thư, không phải của Bách Khoa mà là của giáo sư Hầu. Ông cho biết Bách Khoa đã báo cho ông biết về bài báo và để cho ông được đọc trước khi đăng. Nhân câu nhắn tin của tôi, ông yêu cầu Bách Khoa tạm hoãn để ông liên lạc với tôi xem sao đã. Ông xin lỗi về việc đó và ngỏ ý mong muốn được tôi hợp tác, giúp đỡ, bằng cách cung cấp những tài liệu và hình ảnh đã và sẽ sưu tập , đồng thời trả lời những câu hỏi liên quan đến quê hương và thân quyến Thoại Ngọc Hầu mà ông thấy chưa được sáng tỏ. Tôi biết ông rất nóng lòng trông hồi âm nên vội trả lời vắn tắt là chấp nhận hết thảy mọi điều ông yêu cầu trong niềm thông cảm của kẻ cầm bút; riêng về hình ảnh và tài liệu, cùng là trả lời những câu hỏi do ông nêu ra thì phải chờ lâu hơn vì tôi cần thời gian để thu thập thêm những chứng dẫn cần thiết, đặc biệt có một số lăng mộ nằm trong khu quân sự thuộc loại mật, không dễ chi chụp hình ngay được.

Thật vậy, ngoài hai sở lăng nằm trên một nỗng đất cao cách nhà cụ Bút không xa mà tôi đã từng được dẫn đi thăm và biết là lăng của ông bà nội Thoại Ngọc Hầu, còn cái lăng mà các cụ nói là lăng của Bảo hộ Thoại lại nằm trong khu vực Tổng kho Đà Nẵng, được canh phòng cẩn mật và dĩ nhiên bảng cấm chụp hình yết la liệt. Tôi không quen sĩ quan Chỉ huy trưởng nên chưa biết làm thế nào để có thể xâm nhập vùng cấm địa mà khảo sát đây. Một hôm, nhân đi uống cà-phê với nhà văn Duy Lam (trung tá Nguyễn Kim Tuấn, Quân đoàn I) tôi than thở về cái “kẹt” của mình, và hỏi anh có quen với trung tá X. Chỉ huy trưởng Tổng kho Đà Nẵng không? Anh cười thoải mái:

-Tay đó tôi quen thân lắm. Để trong tuần này hễ ngày nào thư thả, tôi sẽ điện thoại cho anh biết, chuẩn bị, rồi tôi chở vào đó, gặp anh ta nói chuyện. Không có gì trở ngại đâu.

Quả như anh Duy Lam dự liệu, tôi đã vào được khu vực Tổng kho Đà Nẵng, khảo sát ngôi lăng cổ, ghi chép và chụp hình thoải mái nhờ sự thông cảm bạn bè. Và đúng như tôi nghĩ, đó không phải là lăng Quan lớn Bảo hộ mà chính là lăng thân phụ ông ta.

Mấy chục năm đã trôi qua, thật khó mà nhớ hết những gì tôi đã gởi vào Long Xuyên cho giáo sư Hầu. Dĩ nhiên, ông rất sung sướng và cảm động về những gì tôi đã làm cho ông và cho biết với những tài liệu đó ông có thể viết thêm một chương mới để bổ sung cho tác phẩm khi tái bản. Ngược lại, tôi cũng cảm thấy hoan hỷ vì trên đường đời lại nảy ra một mối giao tình mới. Tôi muốn đứng giữa làm gạch nối Châu Đốc và Đà Nẵng để hai bên, những người còn mang nặng lòng tri ân và tưởng nhớ tới Thoại Ngọc Hầu, có thể gặp gỡ nhau, mở rộng tình tương thân tương ái giữa hai quê hương của cùng một danh nhân. Bây giờ thì không còn nhớ đã đem việc này ra bàn với các cụ ở An Hải và giáo sư Hầu chưa, nhưng dù rồi hay chưa thì mọi tính toán cũng đều tan theo mây khói trong cơn lốc mùa Xuân 75.

Sinh Nguyễn Tử Trần

Một buổi chiều, khoảng hai giờ, đang ngồi làm việc thì người trực an ninh vào báo có phái đoàn làng An Hải muốn vào gặp. Tôi nói xin mời vào, và thoáng một chút ngạc nhiên: sao không nghe cụ Bút nói gì cả?

Phái đoàn gồm có năm vị, trong đó tôi chỉ còn nhớ có hai người là cụ Bút và ông Trần Văn Mẹo, nghị viên Thành phố Đà Nẵng. Mục đích của phái đoàn là chính thức cảm ơn tôi và trao tặng bảng “Công Đức Vô Lượng” vì tôi đã có công trong việc giúp trùng tu đền thờ Thoại Ngọc Hầu. Thôi thì không biết nói làm sao, đành “cung kính bất như tuân mệnh”, xin nhận lãnh và cảm ơn làng vậy. Trong câu chuyện, tôi lại nhấn mạnh về tầm vóc của Thoại Ngọc hầu đối với đất nước và nhân đó xin tặng làng cuốn sách của giáo sư Nguyễn Văn Hầu viết về Bảo hộ Thoại để làm kỷ niệm. Họ đòi phải có con dấu chức vụ và chữ ký của tôi mới chịu nhận, thôi thì cũng chiều lòng. Không biết cuốn sách đó nay làng có còn giữ không.

Chúng tôi chuyện trò khá lâu và bỗng một vị trong phái đoàn vừa cười vừa nói rằng:

-Thực ra, làng chúng tôi có đến hai danh nhân, mà hai danh nhân này lại đối nghịch nhau. Quan lớn Bảo hộ là danh nhân thuộc phe chiến thắng, tiếng tăm lừng lẫy, sử sách ghi chép nên ai cũng biết; còn ông kia là danh tướng thuộc phe chiến bại, không ai dám nhắc tới, lâu ngày rồi quên luôn.

Tôi ngạc nhiên quá đổi:

-Xin cho biết là ai vậy?

-Là tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu đó. Ông Trần Quang Diệu cũng là người làng An Hải chớ đâu, nay con cháu vẫn còn. Như ông nghị viên Trần Văn Mẹo đây là thuộc dòng dõi tướng Trấn quang Diệu đó.

Tôi ngạc nhiên thiếu điều bật ngữa. Lòng tự nhủ: sao mảnh đất An Hải nhỏ bé hiền hòa vậy mà lắm chuyện ly kỳ đến thế! Thoại Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại, danh tướng khai quốc công thần của Nhà Nguyễn người làng An Hải, mà viên dũng tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu cũng người làng an Hải! Tướng Trần Quang Diệu cùng vợ là nữ tướng Bùi Thị Xuân đã từng nhiều phen làm vất vả điêu đứng quân của Nguyễn Vương (vua Gia Long sau này), gây cản trở lớn trên bước đường tiêu diệt Tây Sơn. Vì vậy, khi bắt được cặp vợ chồng anh hùng đáng sợ này, nhà vua không những hành hình họ mà còn tàn sát thân nhân của họ bằng án tru di tam tộc. Theo lời kể của ông nghị viên Trần Văn Mẹo, khi nghe tin dữ ở kinh đô Huế, có người đã vội vã về ngay làng An Hải báo tin cho họ Trần biết để tìm cách lánh nạn trước khi lệnh truy nã đến. Nhờ hương lý và dân làng đều có cảm tình với họ Trần nên đã giúp một số gia đình đào thoát khỏi làng, thay tên đổi họ, đi lánh nạn phương xa. Số còn lại , gồm những người không đi được hay không muốn đi, đều cải sang họ Nguyễn. Do đó, khi lệnh truy nã tới thì không còn ai họ Trần để bị bắt giết. Vì sự sống mà phải bất đắc dĩ mang họ Nguyễn, nên đến khi chết thì con cháu đều trở lại họ Trần để không mất gốc, tạo nên một tập tục mà hết thảy con cháu đều phải tuân theo , gọi là “Sinh Nguyễn tử Trần”. Sau khi triều đình Huế nhường đất Đà Nẵng cho Pháp làm nhượng địa (1888), quyền lực địa phương không còn ở trong tay Nhà Nguyễn nữa, không có lý do gì để phải sợ hãi đề phòng nữa, nên một số đã trở lại họ Trần (chẳng hạn chi của ông Trần Văn Mẹo), phục hồi dòng tộc cũ của ông cha, số còn lại vẫn giữ tục “Sinh Nguyễn tử Trần”.

Khi nắm được thông tin lý thú này, tôi dự tính sẽ làm một cuộc sưu khảo về dòng dõi Trần Quang Diệu ở An Hải, vừa để xác minh những điều vừa mới ghi nhận, vừa hy vọng biết đâu lại tìm ra được những điều mới mẻ lý thú khác nữa ở cái vùng đất có bề ngoài hỏ bé khiêm tốn nhưng lại mang nhiều chuyện xưa tích cũ bất ngờ này. Nhưng rồi tháng Ba gãy bút.

VÕ HƯƠNG-AN

Tư Liệu Lịch Sử Về Biến Cố Đức Mẹ Hiện Ra Tại Trà Kiệu

0 bình luận

Tư liệu này có tên “Một trang sử đau thương ở giáo đoàn Trà Kiệu” là bản dịch bài viết “Une page de la persécution en Cochinchine” do LM. Geffroy, Hội Thừa Sai Paris, truyền giáo tại Nam Việt, viết đăng trên tuần báo “Missions Catholiques” ở Paris vào các ngày 03, 10 & 17/9/1886. Bản trích đăng này được lấy từ cuốn “Linh địa Trà Kiệu” (Phần IV Phụ Lục, từ trang 267-300) của hai tác giả Jos. M. PCĐ & Mattheo LVT.



Chúng ta biết rằng : Giáo dân Quảng Nam (nay là Quảng Nam Đà Nẵng) được chia thành 3 khu vực. Khu vực phía Bắc, gần Đà Nẵng, do quyền cai quản của Cố Thiên (Maillard). Khu vực ở giữa gần thủ phủ Quảng Nam, do Cố Nhơn (Bruyère) coi sóc. Còn khu vực phía Nam được giao phó cho một linh mục bản xứ là Cha Cân Du.

Không hiểu vì sao mà cuộc nổi dậy của Văn Thân (tức phong trào Cần Vương) lại bắt đầu nổi lên ở Tư Ngãi (Quảng Ngãi), rồi mau lẹ lan tràn vào phía Nam, đến Bình Định. Trong khi đó, ở Quảng Nam, cuộc nổi dậy của Văn Thân lại chậm hơn. Sự chậm trễ này không biết có phải là do Trà Kiệu ở gần thủ phủ Quảng Nam hay không, hay vì sự hiện diện của một đại đội thủy quân lục chiến và một chiến thuyền Pháp ở Đà Nẵng. Thực ra, điều đó chúng ta không biết đích xác được. Nhưng thực tế là sau một tháng rưỡi xảy ra cuộc tàn sát giáo dân ở Tư Ngãi, giáo dân ở Quảng Nam có thể đi lại bình thường, bằng chứng là vào những ngày đầu tháng 8 (1885), một đoàn chừng 200 giáo dân ở khu vực Cố Garrin (Tư Ngãi) đã vượt qua phần đất phía Nam tỉnh Quảng Nam để chạy ra Trà Kiệu mà không bị gì cả. Tuy nhiên, trong thời gian này, nhiều tin đồn về một cuộc bách hại khủng khiếp đã lan đi khắp nơi. Chính Cố Thiên cũng đã nghe đồn rằng : Trà Kiệu bị Văn Thân bao vây ; nên vào ngày 01 tháng 8 năm 1885, Cha đã xuống Đà Nẵng báo tin cho đại úy đồn trưởng Ducres, để nhờ ông ta đi giải cứu cho Cố Nhơn. Quân giải cứu đến Trà Kiệu, nhưng không thấy một nghĩa quân Văn Thân nào cả, mà cũng chỉ nghe toàn tin đồn như những nơi khác mà thôi.

Đến ngày 15/8/1885 thì những tin đồn này lại càng dữ dội hơn, đến nỗi Cha Cân Du và hơn một nửa giáo hữu của Ngài phải chạy trốn vì quá khiếp sợ. Một số ra nương náu ở Trà Kiệu, một số ra tỵ nạn ở Đà Nẵng, một số khác lại lên Phú Thượng. Số còn lại, vì quá nghèo, nên họ đành phải ở lại quê nhà, thà bị quân Văn Thân giết hơn là phải chết đói ở Đà Nẵng hoặc nơi nào khác.

Nhưng từ ngày 20 đến 25 tháng 8, thì những tin đồn khủng khiếp đó lại lắng xuống. Người ta bảo rằng Văn Thân Quảng Nam sợ quân Pháp trả thù nên không dám nổi lên như Văn Thân ở Tư Ngãi và Bình Định, nhiều giáo dân ở khu vực Cha Cân Du tưởng rằng bình yên đã trở lại, cả Cha Cân Du đang nương náu ở Trà Kiệu cũng chuẩn bị trở về. Ngài đã cho các chức việc (giáo chức) về trước để lo cho giáo xứ.

Đến ngày 26 tháng 8 năm 1885 thì những tin đồn kinh khủng đó lại loan đi trở lại. Lúc này Cha Cân Du đã rời khỏi Trà Kiệu rồi, nhưng nhờ “linh cảm”, thay vì đi về khu vực của ngài ở phía Nam thì ngài lại đi ra hướng Bắc, tức Đà Nẵng, và ngài cũng vừa đủ thời gian để tới nơi an toàn. Còn giáo dân của ngài đã trở về nhà thì không được cái may mắn chạy thoát như ngài, vì khi họ định tháo lui thì mọi ngả đường đã bị ngăn chận. Họ đã bị tàn sát cùng với số giáo dân không thể đi lánh nạn được. Số giáo dân bị tàn sát trong dịp này trên 1000 người, gồm có 650 người ở khu vực Cha Du, 280 người ở khu vực quanh Trà Kiệu và khoảng 100 người ở quanh Phú Thượng.

Ngày 31 tháng 8 năm 1885, quân Văn Thân bắt đầu tập trung chiếm cứ khu trung tâm thủ phủ. Tại Quảng Nam, cuộc tàn sát cũng xảy ra một cách thảm khốc như ở Bình Định và các nơi khác. Một vài ngày trước đó, quân Văn Thân đã cử những cựu quan chức đến các vùng Công Giáo để phỉnh gạt giáo dân bằng cách hứa hẹn bảo đảm an ninh một cách tuyệt đối, với ý đồ là làm cho người Công giáo yên tâm không chạy trốn, chờ đến ngày đã điịnh, họ có dịp tàn sát cho tận hết. Ông Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu, chỉ huy trưởng quân Văn Thân ở Quảng Nam, đã đến các khu vực Công giáo ở phía Nam của tỉnh và cố dùng lời lẽ ngon ngọt để lừa phỉnh một số lớn giáo dân. Một cựu quan đại thần ở làng Nại Hiên, Đà Nẵng, lên lừa phỉnh khu vực Cố Thiên. Ông ta đến một làng dân bên Lương ở gần Phú Thượng và nhắn tin muốn gặp Cố Thiên. Cố Thiên trả lời rằng : nếu ông ta muốn gặp tôi thì đến nhà xứ chứ tôi không ra. Rồi người ta thấy chính vị cựu quan này đã chỉ huy tấn công Phú Thượng ngày 18/10/1885, và đã bại trận trong một cuộc kịch chiến tại đèo Lộc Hòa. Còn các quan chức ở Tỉnh đường cũng cam kết với Thiếu tá Gonec về sự trung thành của họ đối với Pháp quốc, cũng như xin bảo đảm cuộc sống bình thường cho người Công giáo, bằng cách quyết tâm lãnh đạo phong trào Văn Thân, và giữ vững an ninh trật tự. Vì tin những lời lừa gạt đó mà vị thừa sai đã bị sai lầm và mất cảnh giác về việc “muốn hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh”.

Giáo xứ Trà Kiệu bị bao vây vào ngày 01 tháng 9 năm 1885, sau ngày Văn Thân chiếm giữ thủ phủ Quảng Nam. Trà Kiệu lúc bấy giờ chưa có chuẩn bị tự vệ, vì Cố Nhơn (Bruyère) nghĩ rằng : Trận chiến sẽ không khủng khiếp hơn trận chiến ở Trung Sơn, Tư Ngãi. Ở đó chỉ có 800 đến 900 giáo dân, kể cả người già và trẻ em, mà đã có thể cầm cự với quân Văn Thân ròng rã hơn một tháng trời. Với Trà Kiệu, ngài chỉ cần chống cự trong 2 hoặc 3 ngày để xin quân Pháp đến giải cứu, vì đại ý Ducres đã hứa với ngài một cách chắc chắn rằng, khi nào ngài bị tấn công, đại úy sẽ lập tức bay vào tiếp cứu ngay. Lời hứa đó cũng được ông ta nhắc lại trong một lá thư gửi cho ngài vào giữa tháng 8. Vì thế, Cố Nhơn một phần hi vọng vào sự cứu viện này, nhưng phần lớn là Cha hoàn toàn tin cậy vào sự che chở của Đức Trinh Nữ Maria. Cha tin là chỉ có Mẹ luôn luôn hiện diện bên Cha. Cha cũng còn nghĩ rằng : thà ở lại Trà Kiệu để cầm cự ít ngày còn hơn là đưa giáo dân đi lánh nạn ở bãi cát Đà Nẵng, không nơi trú ngụ, không lương thực thực phẩm.

Giáo xứ Trà Kiệu có được 4 khẩu súng nạp hậu và mỗi cây chỉ có 10 viên đạn, với 5 khẩu súng bắn đá do Cố Thiên nhường lại, và một khẩu súng hỏa mai. Thêm vào đó, trong những ngày đồn đại khủng khiếp, giáo dân đã tự rèn một số giáo mác để tự vệ. Toàn giáo xứ lúc đó có 370 nam nhơn có thể cầm vũ khí để tham chiến (tuổi từ 16 đến 60) và được chia ra làm 7 đội. Các phụ nữ khỏe mạnh, độ 500 đến 600 chị, được xếp vào đội dự bị (đội 8). Sau khi đã chỉ định địa điểm phòng thủ cho từng đội, Cố Nhơn hoàn toàn phó thác và trông cậy vào Chúa và Mẹ.

Với địa hình địa thế của Trà Kiệu, việc phòng thủ rất bất lợi, vì muốn chiếm giữ những cao điểm để khống chế toàn giáo xứ, thì phải có một lực lượng đông gấp nhiều lần so với lực lượng hiện có. Về phía Tây, có đỉnh đồi rặng Kim Sơn (gọi là Hòn Bằng) cách nhà thờ chừng 120 mét. Còn về hướng Đông, cách đồi Kim Sơn 1 cây số (1 km) có hòn Bửu Châu (gọi là Non Trọc hay Non Trược) là một quả đồi hình nón nhô lên cao chừng 60 mét đến 70 mét (giáo xứ Trà Kiệu nằm giữa hai ngọn đồi này). Về phía Nam, cách một cánh đồng lúa có dãy thành Chiêm, rộng và cao, dấu vết của thành lũy kinh đô Chàm ngày xưa còn lại. Quân Văn Thân đã lập tức chiếm cứ các cao điểm trọng yếu này, nên việc phòng thủ của giáo xứ rất khó khăn. Còn về mặt Bắc, thì có một bãi cát rộng giáp ranh với tuyến phòng thủ của giáo xứ, mà mùa hè thì khô cạn, còn mùa đông thì đầy nước.

Vào ngày 01 tháng 9 năm 1885, khoảng xế trưa, người ta thấy quân Văn Thân từ bốn phía ùn ùn kéo đến, làn người đông nghịt vây quanh giáo xứ hò hét inh ỏi. Họ bao vây như thế ròng rã suốt 21 ngày đêm.

Chiều hôm đó, địch chưa tấn công. Họ hí hửng chiếm cứ những cao điểm và lo củng cố những vị trí chiến đấu. Họ chỉ bắn một vài phát súng vu vơ. Giáo dân Trà Kiệu lập tức tiến lên giữ ngọn đồi Kim Sơn và có ý giữ cao điểm này đến cùng. Thế nhưng vào ngày hôm sau, tức ngày 02/9/1885, vì khiếp sợ trước lực lượng quá đông đúc của Văn Thân, nên giáo dân không dám ở lại trên đồi cao này nữa. Sau một trận chiến giả vờ, họ đã tháo chạy xuống đồi một cách hoảng sợ, và tìm cách trở vào bên trong vị trí phòng thủ của giáo xứ. Mặc dầu không phải đương đầu với quân Văn Thân, nhưng vì quá hoảng sợ tháo chạy bán sống bán chết, nên đã bị té chết mất 4 người. Chỉ mỗi cái thất bại này cũng đủ làm cho họ thất đảm, tinh thần nguy ngập và chao đảo. Họ từ chối đi chiến đầu và quyết buông vũ khí để sớm cam chịu số phận bất hạnh của mình. Họ tập trung trước nhà Cha xứ và xin ngài ban cho các phép sau hết. Họ nói : “Chúng con phải chết, vì tất cả sự tự vệ đều vô ích, chúng con muốn chết ngay tại nhà thờ này hơn là ở chỗ nào khác”.

Đây là một trong những giờ phút đau buồn nhất của Cố Nhơn, mặc dù với tất cả cố gắng, ngài cũng không thể nào khơi lại sự can đảm của họ. Vào buổi chiều ngày 02/9, khi biết quân Văn Thân đang tiến sát vào phía Đông, Cố Nhơn sai một thanh niên mang lệnh cho vị chỉ huy đội 2 là nên bỏ những mảnh vườn riêng lẻ ở dưới chân đồi Bửu Châu, vì khó chống giữ, để lui vào phòng thủ ở bên trong đường ranh của các lũy tre, vừa kín đáo vừa hạn hẹp. Cậu thanh niên đó đã bóp méo sự thật bằng cách nói dối rằng : Cha ra lệnh bỏ tất cả để tập trung về nhà thờ nhận lãnh các phép sau hết và chờ chết. Đây không phải là lệnh của Cha xứ, mà chính cậu ta phịa ra theo yêu cầu chung của giáo dân. Nhưng may thay, vị chỉ huy đội 2 không tin vào lời phịa này, và cùng lúc đó ông ta thấy quân Văn Thân áp sát rất gần, ông mới ra lệnh cho một giáo dân (tự vệ quân) bắn vào chúng. Người vệ quân này núp sau một bụi tre, quan sát rất rõ, nên đã bắn vào toán quân đang kéo khẩu súng đại bác. Người đi đầu ngã xuống, lập tức những người kéo súng ở phía sau vất súng mà tháo chạy. Đội 2 đã thu được khẩu súng đó. Chiến thắng này cũng không làm cho giáo dân lên tinh thần được. Ban đêm, họ không chịu canh gác mà lui về nhà than khóc, hoặc là tập trung về nhà thờ chờ chết không chịu ra chống cự nữa. Nếu đêm hôm đó quân Văn Thân biết được tinh thần giáo dân suy sụp như thế và họ tổ chức tấn công, thì chắc chắn trong nháy mắt họ có thể tàn sát tất cả mà không ai dám chống cự. Nhưng may thay, kế hoạch của họ là không tổ chức tấn công ban đêm, vì sợ sẽ có một số người, nhờ bóng đêm mà thoát ra ngoài được. Trái lại, ban đêm họ tổ chức canh gác rất nghiêm ngặt, và không ngừng đanh trống gióng mõ. Cứ 5 phút thì người chỉ huy của họ lại bắc loa mà kêu to : “Ớ các đội, các vệ, phải canh giữ cho nghiêm nhặt, đừng cho đứa nào thoát nghe !”

Tiếng a-lô, a-lô đó vang lên nghe khủng khiếp quanh giáo xứ, rồi cứ lập đi lập lại suốt đêm và kéo dài trong 21 đêm như thế. Điều đó đã làm cho những người gan dạ nhất cũng phải lạnh người vì khiếp đảm. Chính Cố Nhơn khi nghe những lời a-lô đó cũng thấy dâng lên trong tim ngài một nỗi buồn vô tả. Nhưng lập tức ngài hướng tâm hồn lên cùng Mẹ Maria, người Mẹ đã từng che chở cho ngài rất nhiều lần, và chính trong cuộc bao vây khủng khiếp này, một lần nữa ngài lại được sự che chở huyền diệu của Mẹ. Mẹ là nơi nương tựa duy nhất trong những giờ phút tuyệt vọng này, nên ngài đã khẩn thiết cầu xin Mẹ một cách chân tình, và ngay lập tức ngài cảm thấy một niềm tin tưởng vô biên. Chính nhờ sự che chở quyền uy của Mẹ mà cha đã đứng vững đến cùng, và cũng chính trong đêm ngày 02 và 03/9, giáo dân bắt đầu lên tinh thần đôi chút. Vì thế, vào lúc nửa đêm, cha đã gọi các vị chỉ huy đến nhà xứ và báo cho họ biết là không còn cách nào khác hơn là phải chiến đấu tự vệ, và ngài đã quyết định như thế. Chẳng mấy chốc từ người này đến người khác đều đồng thanh kêu lên : “Phải chiến đấu, vì đó là ý muốn của Thiên Chúa và Mẹ Đồng Trinh”. Họ lại bảo với nhau : “Chúng ta phải nghe lời cha, và nếu phải chết thì chúng ta sẽ chết với khí giới trong tay”.

Do vậy mà tối đó, người ta bàn tính chuẩn bị cho trận ác chiến vào ngày mai. Họ lo nấu cơm rất sớm, vì sợ trong ngày không có thì giờ để nấu. Và đúng như thế, ngày 03 tháng 9 hôm đó thật khủng khiếp. Họ phải giao chiến từ sớm tinh sương cho mãi đến chiều tối. Năm lần giao chiến là năm lần địch quân bỏ chạy tán loạn. Nhưng sau trận đánh thứ 5, tuy thắng trận, mà tinh thần giáo dân bị suy sụp, vì lúc này họ đã quá mỏi mệt và thấy quân Văn Thân càng lúc càng đông thêm. Trong khi đó, thì ngược lại, quân Văn Thân cũng khiếp sợ giáo dân nên vừa đụng độ là họ tháo chạy tán loạn. Họ chán nản và thường tụ tập từng nhóm mà oán trách chỉ huy của họ. Còn giáo dân Trà Kiệu thì tin chắc là không thể nào chống cự nổi, nên họ kéo về trước nhà Cha xứ xin Cha cho họ buông khí giới và vào nhà thờ chờ chết. Một vài viên chức lại đưa ra ý kiến “đầu hàng” bằng cách đi đàm phán với quân Văn Thân. Họ sẽ bỏ tất cả nhà cửa, ruộng vườn, của cải, chỉ xin một điều là cho họ ra Đà Nẵng bình an vô sự. Nhưng lại không có ai dám liều mình đi đàm phán với quân Văn Thân. Cuối cùng họ nghĩ ra một cách là viết các điều kiện đó bằng chữ lớn trên một vuông lụa to rồi cho người đem treo phía trước mặt quân Văn Thân, ngay đầu lũy tre thay thế cho lá cờ lệnh. Lúc đó thì nhà thờ đầy ắp người, họ từ chối không đi chiến đấu nữa ; còn Văn Thân thì đang tiến gần đến tuyến phòng thủ phía Bắc. Cha xứ cố gắng hết sức cũng không thể nào đưa họ trở lại vị trí phòng thủ. Họ quỳ xuống trước mặt Cha, vừa khóc vừa lạy, xin Cha ban các phép sau hết. Quân Văn Thân từ trên đồi Kim Sơn đã nghe họ than khóc nên chúng mai mỉa rằng : “Cố Thiên đến cứu chúng bay đó !”. Trong trường hợp nguy cấp và tuyệt vọng đó, chính nhờ ông Phổ, chỉ huy đội 1, đã cứu nguy cho giáo xứ. Ông không sợ hãi và không bao giờ nhụt chí, ông không ngừng lặp đi lặp lại : “Phải nghe Cha xứ, phải nghe Cha xứ”. Ông nói thêm : “Thật là khốn nạn nếu như chúng ta buông khí giới, vì quân Văn Thân không đời nào cho chúng ta ra Đà Nẵng một cách an toàn. Ai muốn đàm phán thì đi đàm phán, còn chúng tôi, luôn giữ chặt khí giới và phải chiến đấu cho đến cùng”.

Thế rồi tuy mệt nhoài, ông cũng đã tập trung lính của ông lại và dẫn ra giao chiến với quân Văn Thân đang tiến về phía Bắc. Cùng lúc đó, thầy Phan, vì vừa nghe được những lời mai mỉa của quân Văn Thân, nên ông đã lặp lại những lời đó một cách nghiêm trang để khích lệ và trấn an tinh thần những người còn đang ẩn náu tại nhà thờ rằng : “Cố Thiên đang kéo quân đến, chúng ta phải mau ra đẩy lui quân tấn công, để ngài có thể vào được”. Họ nghe thế và tin là thật, nên lại cầm khí giới chạy theo đội quân của ông Phổ. Ông đội Phổ đến cổng ra vào vừa đúng lúc viên chỉ huy đội 2 bắt đầu nói chuyện đàm phán. Khi chỉ huy đội 2 tuyên bố đầu hàng thì đội Phổ chặn lại ngay và la to lên : “Không, không, chúng tôi không bao giờ đầu hàng. Chúng tôi hoặc chiến thắng hoặc phải chết”.

Cùng lúc đó ông mở cửa dẫn đầu đội quân ào ạt xông thẳng vào quân Văn Thân một các hùng dũng, làm cho quân Văn Thân khiếp sợ chạy trối chết. Chúng ta cũng biết rằng, ngày tấn công thứ 3 này (ngày 03/9) rất khủng khiếp đối với giáo dân Trà Kiệu, vì ngày đầu và ngày thứ hai, giáo dân chỉ phải đương đầu với dân bên lương ở các làng quanh đó. Nhưng ngày thứ 3 này thì tất cả lực lượng ở thủ phủ Quảng Nam đều tập trung về đây rất đông. Nếu như họ có tinh thần chiến đấu không bỏ chạy một số lớn, thì quân số của họ có thể đông gấp 2 gấp 3 hiện nay, và có thể đè bẹp Trà Kiệu trong phút chốc. Thế nhưng, tại sao Trà Kiệu lại thoát khỏi cơn giáo nạn này ? Một phần là do sự chia rẽ của Văn Thân. Họ có nhiều vị chỉ huy khác nhau và mỗi vị chỉ huy chỉ lo riêng đơn vị của mình. Trong lúc đơn vị này giao chiến thì các đơn vị khác dựng giáo đứng xem và hò reo. Họ không hề hỗ trợ nhau và cũng không bao giờ nghĩ đến việc chận đánh tập hậu giáo dân, vì giáo dân thường rượt đuổi quân địch chạy rất xa. Họ không có kế hoạch tổ chức chung, nghĩa là không có ai chỉ huy tối cao, nên không có vị nào nhường vị nào, giữa họ chỉ có sự ganh tị chứ không có sự thỏa hiệp với nhau.

Ban đêm họ chỉ lo canh gác chứ không tấn công. Và từ hai ngọn đồi họ đặt súng đại bác bắn chừng chừng vào giáo xứ, và thường bắn vào chỗ có ánh sáng hoặc chỗ có tiếng chó sủa. Ban ngày họ dùng hai ngọn đồi này làm đài quan sát, nhất là họ cố quan sát để khám phá ra chỗ ở của Cố Nhơn. Vì thế mà ngài phải cạo râu và cải trang, nhưng cũng không sao tránh được. Ngài luôn bị chúng phát hiện : “Tây dương đạo trưởng, Tây dương đạo trưởng, bắn, bắn !”, chúng la lên và lập tức một quả đạn xẹt qua bên tai ngài. Cha quản xứ đã trải qua suốt thời gian bao vây với biết bao nhiêu là đau buồn, thất vọng và cay đắng. Ban ngày, ngài xuống tuyến phòng thủ của giáo xứ để xem xét những chỗ sơ hở yếu thế và kịp thời chỉ đạo việc chiến đấu. Vào lúc ngưng chiến đấu thì ngài lo chăm sóc những người đau yếu. Nhà thờ cũng như nhà xứ đều chật cứng. Từ 7, 8 ngày nay, Cha không thể ăn uống nghỉ ngơi gì được, nhất là vào ban đêm, với những tiếng kêu thét khủng khiếp của những tên lính canh, rồi tiếng nổ vang trời, làm sao Cha có thể yên tâm nghỉ ngơi được ? Ban ngày, ngài cũng cố nghỉ một chốc, nhưng rồi lại chợt giật mình trỗi dậy. Ngài đã nói với tôi rằng : Trong suốt những ngày đêm dài vô tận đó, ngài đã khóc rất nhiều, nhưng thường là khóc vì vui mừng. Trước sự che chở hiển nhiên của Mẹ Đồng Trinh, tim ngài phập phồng nức nở, rồi nước mắt sung sướng cứ ràn rụa, và sau đó ngài lấy lại được sự bình tĩnh.

Ngày 04/9, giáo dân đã đẩy lùi được hai đợt tấn công, một vào buổi sáng, một vào buổi chiều. Khi quân Văn Thân tiến sát đến vị trí phòng thủ của giáo xứ được làm bằng tre tươi, thì giáo dân lập tức xông ra và bắt đầu giao chiến. Không có trận chiến nào kéo dài quá 10 phút. Văn Thân tuy quân số đông nhưng sớm mất tinh thần rồi quay lưng chạy thoát. Giáo dân Trà Kiệu dần dần bạo dạn hơn và thường phóng đuổi theo, nếu không giết được nhiều quân địch thì cũng thu được một số đại bác, súng ngắn, do lính đào tẩu bỏ lại để chạy thoát thân. Có khi giáo dân cũng gặp cuộc chống cự mãnh liệt, giáo mác giao nhau mà không bên nào dám lui giáo để đâm, vì sợ chính mình lại bị đâm trước. Giáo dân đã dùng mưu mẹo, họ la lên : “Đổ rồi, đổ rồi, chúng chạy trốn. Chúng ta can đảm lên. Giê-su, Maria, hè ! hè !”. Nghe thế, quân Văn Thân đồng loạt ngước mắt nhìn xem thử cái gì đổ, thì ngay giây phút bất ngờ đó, giáo dân ta lui giáo để đâm giết chúng và như thế là quân Văn Thân hoảng sợ lo chạy thoát thân. Còn đội quân dự bị gồm toàn đàn bà phụ nữ, khi có dịp tham chiến họ cũng nhanh chóng tiếp ứng các cuộc giao tranh. Khi trông thấy những người phụ nữ này hùng dũng xông vào chiến trận thì quân Văn Thân run chân tháo chạy trước khi các bà lao đến. Và quả thật như thế, trông họ có vẻ dũng mãnh, với mái tóc tung bay sau lưng, họ nhảy xốc tới, vung gươm giáo hay dao rựa và kêu lên : “Hè, hè, Giêsu Maria Giuse, thương chúng con, che chở chúng con”. Dù bở hơi tai để rượt đuổi quân địch, nhưng họ vẫn tự hào, khi giết được quân giặc họ trở về tạ ơn Đức Mẹ. Từ khi bắt đầu bị bao vây, Cố Nhơn đã đặt một tượng ảnh Đức Mẹ trên cái bàn để ngay giữa nhà cha với hai cây đèn sáp hai bên. Tất cả những lần phải ra trận chống đỡ quân tấn công, giáo dân Trà Kiệu đều thắp đèn và quỳ cầu nguyện. Ai không thể đi chiến đấu được, như già cả và trẻ em, thi quy lần chuỗi chung với nhau, và khi quân địch bị đẩy lui thì các chiến sĩ trở về tạ ơn Mẹ. Họ quỳ gối trước ảnh Mẹ, tay vẫn còn cầm gươm giáo, có cái còn vấy cả máu, và họ cầu nguyện rất lâu. Có khi đang cầu nguyện họ phải gấp rút ra đi để ngăn chận cuộc tấn công mới. Nhưng họ không bao giờ quên trở lại để cám on Đấng phù trợ cho chiến thắng mới của họ. Lòng tin tưởng dần dần khơi dậy và người ta bắt đầu hy vọng. Họ không còn nhớ đến cái ngày thứ ba (03/9) hoàn toàn tuyệt vọng đó nữa.

Ngày 05 và 06 tháng 9, quân Văn Thân chỉ bao vây canh gác chứ không mở các cuộc tấn công. Thay vì tấn công thì họ lo xây thành đắp lũy ở phía Bắc, bên kia bãi cát, mục đích là để công cuộc bao vây được nghiêm nhặt hơn, đề phòng sự trốn thoát ban đêm, và đồng thời tạo cho phía giáo dân mất đề cao cảnh giác. Ngoài ra họ còn có mục đích khác là buộc binh lính của họ phải chiến đấu vì khi bị rào giậu ngăn cản ở sau lưng, thì binh lính không thể chạy trốn dễ dàng được. Đã nhiều lần người ta nghe các vị chỉ huy quở trách quân lính của họ là khiếp nhược và rối loạn ngay khi vừa đụng độ. Người ta có thể nghe được cuộc đối thoại của họ rõ ràng vì họ đóng quân trên ngọn đồi Kim Sơn rất gần nhà thờ. Khi hàng rào, thành lũy của họ đã làm xong, họ lại tăng cường thêm nhiều trại quân, điếm canh, dọc theo tuyến lũy. Sự việc đó không làm cho giáo dân lo lắng mấy, nhưng vào chiều ngày thứ 6 (06/9), khi thấy quân Văn Thân mang rất nhiều bó rơm rạ đến chất trên bãi cát, giữa hai lằn ranh phòng thủ, thì giáo dân mới thấy lo ngại. Dọc theo lũy tre phía Bắc giáo xứ, từ đồi Kim Sơn đến cồn đất dưới chân hòn Non Trược, được phủ đầy rơm rạ. Họ có ý muốn đốt lũy tre bao bọc giáo xứ. Thật là nguy hiểm, cần phải phá hủy số rơm rạ này và không cho chúng đưa rơm rạ đến gần lũy tre phòng thủ của giáo xứ. Do đó, giáo xứ đã quyết định một trận tử chiến vào ngày mai (07/9), và mọi người đã chuẩn bị sẵn sàng.

Ngày 07/9, từ sáng sớm, sau khi đã cầu xin Mẹ Maria giúp đỡ và được Cha Xứ khích lệ tinh thần, giáo dân tiến ra cổng phía Bắc, và ở đó, giáo mác cầm tay, họ chờ lệnh tấn công. Khi cánh cửa vừa mở ra, họ đồng loạt xông vào quân Văn Thân, với một sự dũng mãnh vô song, đồng thờ reo hò chiến đầu. Quân Văn Thân lập tức chạy đến để đẩy những bó rơm rạ ra đến sát lũy tre. Chỉ huy của họ là cậu Thiên (có lẽ là Ông Ích Đường), con trai tướng Ông Ích Khiêm (Ông Ích Khiêm đã chống giữ Thuận An với tướng Courbet), quá khiếp sợ trước sự gan dạ của giáo dân, nên đã vượt qua tường rào của chúng để tháo chạy một cách xấu hổ. Và cũng vì ông ta sợ giáo dân đuổi theo, nên sau khi qua khỏi tường rào, ông liền đóng sập cửa lại, bỏ mặc cho số phận của quân lính ông. Quân Văn Thân bị vướng tường rào phòng thủ của chính họ, nên không thể tháo chạy được, đã bị giáo dân đâm chết rất nhiều. Tiếp đó, giáo dân tiến lên phá hủy rào giậu, doanh trại, điếm canh và thu tất cả chiến lợi phẩm ở trong các doanh trại. Đội quân dự bị phụ nữ (đội 8) được nổi tiếng trong ngày chiến thắng vẻ vang này. Phía giáo dân chỉ có vài người bị thương, còn phía Văn Thân, người ta không biết chính xác là có bao nhiêu người chết và bị thương, vì họ đã mang rất nhiều thương binh tử sĩ ra khỏi chiến trường, đến nỗi có một toán viện binh từ phía bắc kéo đến, nhưng thấy khiêng thương binh và tử sĩ về quá nhiều, nên họ khiếp sợ mà không dám đến tiếp cứu nữa. Riêng về xác chết bỏ lại chiến trường là 36 xác. Tất cả rào giậu, rơm rạ, doanh trại đều bị giáo dân phóng hỏa đốt sạch, khói lửa bốc cáo, khiến cho nhiều người tin rằng Trà Kiệu đã bị thiêu hủy. Chắc các bạn cũng có thể cảm nhận được nỗi vui mừng to lớn của giáo dân Trà Kiệu, và với tâm tình sốt sắng, họ vội vàng đến tạ ơn Đức Mẹ về chiến thắng vẻ vang của mình như thế nào rồi.

Hôm sau, ngày 08/9, lễ Sinh Nhật Đức Mẹ, lại là một ngày khủng khiếp nữa. Thánh lễ sáng vừa xong thì được tin quân Văn Thân tấn công vào hướng Nam. Họ kéo đến rất đông, tràn ngập cả cánh đồng và lũy Chiêm Thành, nơi giáp ranh của giáo xứ. Về phía này cũng như ở phía Đông, Cố Nhơn bắt phải bỏ nhiều khu vườn nhà giáo dân, để khỏi phải phòng thủ một phạm vi quá rộng lớn. Các điểm phòng thủ ở phía này cũng rất yếu ớt, không như ở phía Bắc, có lũy tre kín đáo, mà chỉ có những rào giậu sơ sài có thể vượt qua một cách dễ dàng. Tuy nhiên, quân Văn Thân ít tấn công hướng này, có lẽ vì khi tháo chạy thì rất vất vả nguy hiểm. Ở phía Bắc thì không có gì cản trở sự tháo chạy của họ, trong khi đó ở phía Nam có những cánh đồng lúa sắp chín, muốn chạy qua được đó không phải là chuyện dễ dàng. Nhưng cuộc tấn công hôm nay rất ác liệt, đến nỗi giáo dân không thể chống cự được ngay trận đụng độ đầu tiên. Đơn vị trách nhiệm phòng thủ phía Nam phải bỏ lần từng mảnh vườn, từng mảnh vườn. Quân Văn Thân ồ ạt tiến đến điểm phòng thủ Phước Viện (Nữ tu viện Mến Thánh Giá), và họ đông không đếm xuể. Cũng lúc đó, từ hai ngọn đồi Kim Sơn và Bửu Châu, quân Văn Thân đã không ngừng bắn xối xả vào giáo xứ, đạn rơi khắp nơi. Cố Nhơn chạy ngược chạy xuôi để tìm người cứu viện cho phía Nam. Cuối cùng, đội quân dự bị (phụ nữ) “danh tiếng” cũng phải chuẩn bị hàng ngũ, tiến đến khu vực ở giữa Phước Viện và Cô nhi viện để giáp mặt với quân thù. Cùng lúc đó, một toán khác âm thần tiến qua phía tay phải, sát bờ suối. Quân Văn Thân giao chiến rất mãnh liệt, nhưng khi giáo dân đồng loạt tấn công mặt trước và hai bên hông thì chúng chùn chân và rồi tháo chạy tán loạn kể cả những người gọi là gan dạ nhất. Ngày hôm đó, đội quân phụ nữ lại rất xuất sắc và hiển hách, vì họ đã thực sự cứu nguy cho giáo xứ. Các bà nói : “Không có chúng tôi, tất cả thế là xong, vì chúng tràn đến quá đông mà các ông không sao chống cự nổi”. Còn quân Văn Thân trận đó thiệt hại rất lớn, lớn hơn số liệu người ta ghi lúc ban đầu, bởi vì một tháng sau đó, khi giáo dân đi gặt lúa, họ gặp 14 xác chết còn bỏ lại trong cánh đồng sát chân thành Chiêm. Quân Văn Thân hôm đó rất tức giân vì không thể nào tấn công vào “sào huyệt” của giáo xứ, nên từ trên đồi cao Kim Sơn họ chưởi bới va văng xuống đủ lời nguyền rủa. Và cũng không ai ngăn cản họ tự tố cáo nhau, tự chê trách mình không can đảm bằng những người phụ nữ công giáo. Nhưng thật bất hạnh cho các tín hữu đáng thương, vì chưa có thể chấm dứt được những khốn đốn của họ. Họ đã làm nên những chiến công phi thường, nhưng họ không sao đạt được sự giải cứu. Sau mỗi trận đánh, nỗi kinh hoàng mà quân Văn Thân gieo rắc lập tức lại tràn ngập hồn họ. Vòng vây mà họ đã bẻ gãy thì trong chốc lát lại được lập lại. Tuy nhiên, giáo dân cũng biết rõ rằng : sự hăng say của Văn Thân bắt đầu giảm sút, nên cũng vững tin đôi chút. Giáo dân đã nghe chúng nguyền rủa lẫn nhau, phàn nàn chỉ huy của chúng, kêu khóc và thất vọng, nhất là họ tranh cãi nhau về việc phân chia lương thực không được công bằng. Vì có những vị chỉ huy khác nhau, nên họ cũng chia thành nhiều nhóm riêng rẽ. Nếu có nhóm nào bắt được con bò hay con trâu, thì họ làm tiệc tùng cho riêng nhóm của mình, trong lúc đó những nhóm khác vẫn phải chịu khổ cực thiếu thốn, vì thế mà họ lại ghen tị, nguyền rủa nhau. Nước uống cũng thiếu trầm trọng, không bao giờ và không thể nào mang đến cho đầy đủ. Vì vậy, ngay với chính họ cũng đã bất mãn với nhau và rất dễ đưa đến hành vi chống đối. Trong những trận giao tranh, thay vì chiến thắng, họ đã chiến bại. Đại bác, súng hỏa mai, cũng không giúp gì nhiều mà có khi còn gây nguy hại nữa. Trong lúc này, họ mới nghĩ rằng : Với những khẩu “thần công” ở thủ phủ Quảng Nam mới chiến thắng Trà Kiệu một cách mau lẹ được ; mà ngay từ khi bắt đầu tấn công, họ đã không kéo đến, vì theo họ thì không cần phải dùng đến thân công cũng đè bẹp được Trà Kiệu ngay. Vả lại, kéo thần công lên đến Trà Kiệu cũng rất gian nan, vất vả. Vì thế mà bây giờ họ hối tiếc và quyết định kéo thần công về.

Ngày 09/9 là ngày họ dành cho việc đi kéo thần công về và đặt chúng trên hai đỉnh đồi.

Sang ngày 10/9 thì họ bắt đầu nã thần công thật khủng khiếp, vang dội cả tỉnh. Ở Phú Thượng, cách Trà Kiệu 40km, giáo dân nghe nổ rất kinh hoàng. Chính Cố Thiên cũng tin chắc rằng “đồng nghiệp” của ngài và giáo dân Trà Kiệu đang gánh chịu số phận thương đau. Tâm hồn ưu tư sầu thảm, cha leo lên núi Phú Thượng để xem thử phía Trà Kiệu có bốc cháy không. Cha biết rằng số phận Trà Kiệu được gắn liền vào số phận của Phú Thượng. Mặc dù lần đầu Phú Thượng kháng cự được, lần hai cũng có cơ may để kháng cự lại, nhưng một khi Trà Kiệu bị tàn sát rồi thì Phú Thượng rồi ra cũng bị tàn sát như vậy. Từ trên đỉnh cao, Cha không thấy lửa và cũng không thấy khói, nhưng tiếng súng thần công thì rất khủng khiếp, đến nỗi cha không thể nào tin được Trà Kiệu có thể chống cự nổi. Khắp nơi, kể cả Đà Nẵng nữa, khi nghe những tiếng nổ khủng khiếp đó, người ta bàn tán xôn xao là Trà Kiệu đã bị bình địa. Tuy nhiên, nhờ ơn Chúa, Trà Kiệu không hề hấn gì, vẫn đứng vững và kháng cự anh dũng lại sự điên cuồng của quân Văn Thân.

Thần công của chúng được đặt trên hai ngọn đồi (Kim Sơn và Bửu Châu) và chủ yếu là bắn vào nhà thờ, nhưng đạn lại đi từ đồi này qua đồi kia, giết hại chính quân của họ. Đúng ra thì với số đạn mà người ta đã bắn có thể dằm nát cả khu nhà thờ ra, nhưng thật lạ lùng, nhà thờ không hề hấn gì cả. Ngoài nhà thờ ra, họ còn nhắm bắn phá nhà nguyện của Phước Viện và nhà Cha Xứ. Quân Văn Thân đã biết rõ cha xứ thường ngồi tại một chiếc bàn đặt ngay giữa nhà, và chính nơi đây đã bị 5 quả đạn đại bác, từ đầu này đến đầu kia. Ngọn đèn treo ở phía trên bàn của Ngài bị bể tan, những bức điêu khắc và tranh ảnh treo ở vách ngăn ở phía sau bị phá hủy, rách nát. Có lúc ở trên đồi, quân Văn Thân đã reo hò chiến thắng. Chúng kêu lên : “Tây dương đã chết, tây dương đã bị giết”. Nghe thế, cha xứ bước ra ngoài mái hiên và nói lên với chúng : “Không dễ gì giết được tôi, các ông xuống đây đọ sức với tôi thì sẽ biết”. Cha nói vừa dứt lời thì một quả đạn bay vèo đâm vào cây cột sát bên cạnh ngài. Biết rằng cha xứ là linh hồn của cuộc chống cự nên Văn Thân tìm mọi cách, với bất cứ giá nào, cũng phải giết cho được cha xứ. Một phần thưởng rất lớn, từ 20 đến 30 nén bạc (tương dương 1800 đến 2000 quan Pháp) cho ai bắt sống hoặc giết được ngài. Ba lần ngài bị bắt hụt. Ban đêm quân Văn Thân lợi dụng bóng tối thâm nhập vào giáo xứ và len lỏi đến gần nhà cha. Khi gặp ngài, chúng cố bắt sống, nhưng nhờ sự nhiệt tình của giáo dân nên ngài được cứu thoát. Tất cả những tình tiết cảm động này, bây giờ cha Bruyère (Cố Nhơn) kể lại với một giọng điệu vui vui, nhưng chắc lúc đó ngài không thể cười được.

Sau những trận đại pháo, ngài lại rời khỏi nhà xứ để đi chăm sóc các bệnh nhân và tìm chỗ nghỉ ngơi cho những người bị thương đang nằm ở nhà thờ. Và cũng rất may ngày hôm đó không có trận giao tranh nào cả. Quân Văn Thân đang tập trung quan sát thành quả những trận đại pháo vừa qua, nhưng họ sững sờ khi trông thấy mọi nơi đều y nguyên, mặc dù họ đã dốc hết sức, nhưng tất cả hãy còn đứng vững. Trong các cổ đại pháo, có một khẩu đường kính rất lớn, và được đặt rất gần, khoảng 100 mét, nhưng chỉ bắn trúng nhà thờ có một quả và trúng vào cái hoa thị nhỏ ở phía sau bàn thờ, còn những quả đạn khác lại đi quá cao. Nhưng đó không phải vì nhắm không chính xác, xạ thủ là một quan chức rất quen sử dụng đại bác. Hắn ta đã thú nhận sau đó rằng:muốn nhắm một bà đẹp mặc đồ trắng đứng trên nóc nhà thờ, mà tất cả đều đi quá cao, trừ có một quả.

Suốt ngày hôm đó và cả ngày hôm sau, quân Văn Thân trên đồi Kim Sơn không ngừng kêu lên :“Thật lạ lùng, có một người đàn bà luôn đứng trên nóc nhà thờ, bà rất đẹp mà ta không sao bắn trúng”.

Phải chăng đó là một phép lạ tỏ tường của Đức Mẹ, phải chăng Đức Mẹ đã che chở cho mọi người đang ẩn náu trong thánh đường được dâng hiến cho Trái Tim Vẹn Sạch của Mẹ. Tôi không dám loan báo một sự việc quan trọng như thế, mà tôi chỉ xác tín rằng: quân Văn Thân trong suốt hai ngày liền, họ không ngừng lập đi lập lại rằng : Họ thấy một người đàn bà đứng trên nóc nhà thờ. Khi thì họ nói với sự kính trọng và gọi bà là MỘT BÀ ĐẸP MẶC ĐỒ TRẮNG, khi thì họ tức giận, nguyền rủa, văng tục, vì không sao bắn trúng bà. Giáo dân khi nghe họ nói thế cũng cố nhìn lên nóc nhà thờ, cả cha xứ nữa, nhưng không ai được thấy. Vả lại, tại đây không phải chỉ có một dấu lạ như thế, mà người ta cũng đã nghe đến nhiều dấu lạ tương tự. Tôi muốn nói đến “đạo quân trẻ em”, một đạo quân mặc áo trắng hay đỏ, tiến đến như một đạo quân hùng dũng, chống lại với Văn Thân. Đã hơn một lần, quân Văn Thân kêu lên rằng : Họ không chỉ đánh với người Công giáo, mà còn đánh với hàng ngàn trẻ em đến tiếp ứng khi giáo dân xuất trận. Các em này đến từ trời cao và xuống dọc theo lũy tre khi người Công giáo xuất hiện. Chắc chắn là không phải tất cả những lần xuất trận đều có sự việc lạ lùng đó, mà giáo dân Trà Kiệu chỉ nghe Văn Thân nói về điều đó trong 2 hay 3 lần đụng độ mà thôi. Cho dù đó có phải là phép lạ hay không, nhưng đối với đồng đạo đáng thương của chúng ta, khi đó là dấu chỉ lòng xót thương của Thiên Chúa đối với họ. Và chính Mẹ Maria bằng cách này hay cách khác, cũng đã thể hiện lòng từ ái chở che của Mẹ. Và chúng ta tin chắc rằng, nếu Chúa cho phép những cơn thử thách ghê gớm như thế, thì Ngài cũng có quyền không cho phép tận diệt con cái của Ngài. Rồi đây, sóng gió sẽ nhường lại cho an bình, sau những ngày đau thương sầu thảm, tôi hi vọng giờ phút vỗ về mừng vui cũng lại được vang lên.

Nhưng sao lâu quá, lạy Chúa, xin Chúa hãy mau đến cứu giúp chúng con.
Ngày 11 tháng 9 lại còn khủng khiếp hơn vì phải giao chiến dưới hỏa lực đại pháo bắn trực xạ vào giáo xứ. Trong lúc đó quân Văn Thân tập trung tại địa điểm phòng thủ “Phước viện”, gần lũy tre rậm và nổi lửa lên đốt. Cuộc giao tranh diễn ra ở trong con suối nằm giữa giáo xứ và đồi Kim Sơn. Lực lượng giáo dân phải lùi bước ngay trận đụng độ đầu tiên, và liền đó, vị trí phòng thủ phía nhà Phước viện bị Văn Thân tràn ngập, nhưng nhờ các nữ tu đã hành động hết sức phi thường, các soeurs vừa xông vào giập tắt lửa, vừa rượt đuổi quân địch. Một soeur bị một quả đạn tử thương. Vào giây phút nguy kịch đó thì cố Nhơn vừa đến. Nhờ sự hiện diện cũng như những lời động viên khích lệ của ngài mà giáo dân lấy lại can đảm, rồi đồng loạt phóng mình xuống dòng suối, quân Văn Thân thấy thế, sợ quá, tháo chạy. Trong trận này, có một tên Văn Thân nói là nhân danh Trời truyền lệnh cho người công giáo ngừng chiến đấu và phải đầu hàng. Nó nói : “Hãy đầu hàng, đó là ý muốn của trời, khốn cho các ngươi, nếu các ngươi còn kháng cự”. Nói nói vừa dứt, có một giáo dân phóng về phía nó và đâm cho nó một giáo, đang khi nó cố trèo lên bờ suối phía bên kia. Nó bị giết cùng với 4 tên nữa cũng đang bị vướng mắc trong các bụi tre. Xác của chúng bỏ lại đó cho đến ngày chấm dứt cuộc chiến, làm hôi thúi cả một vùng.

Tuy thắng trận, nhưng nỗi lo lắng lớn nhất của cố Nhơn là sợ thần công ở đồi Kim Sơn bắn sập thánh đường. Nếu thánh đường bị sụp đổ thì điều đó sẽ mang lại một hậu quả thật khủng khiếp về mặt tâm lý : giáo dân sẽ mất tinh thần, mất can đảm, và như thế là hết, tất cả sẽ bị hủy diệt. Thánh đường còn thì niềm tin còn. Thánh đường có 8 cây cột bằng gạch chống đỡ, nếu một quả đạn làm gãy mất một cây cột, lập tức nhà thờ sẽ bị đổ nhào ngay. Vì thế mà cha mới táo bạo quyết định tiến chiếm đồi Kim Sơn. Cha muốn ban lệnh tấn công ngay. Các vị chỉ huy đều im lặng, vì họ sợ khó mà thực hiện được. Đây là khu tổng hành dinh của quân Văn Thân, lại ở trên một quả đồi cao, bên dưới có rào giậu kiên cố. Một lúc sau, họ mới xin cha đợi đến sáng ngày mai, trước khi mặt trời mọc, quân Văn Thân sẽ lơ là canh gác, chúng ta bất ngờ leo lên mở đợt tấn công, như vậy mới có cơ may thành công được. Cha nghe theo ý kiến tuyệt vời đó và quyết định sẽ tấn công vào lúc 3 giờ 30 sáng hôm sau.



Suốt đêm đó, tâm hồn cha nặng trĩu âu lo. Cha luôn lắng nghe động tĩnh và hồi hộp chờ đợi giờ đã định. Vào khoảng nửa đêm, từ phía bên kia bờ suối, một giọng nói khàn khàn gọi các giáo dân. Cha cùng với một vài người nữa đến sát bên bờ suối để nghe cho rõ hơn, và cha đã nghe rõ ràng rằng : “Hỡi giáo dân, hãy qua bên bờ suối này mà lấy đại bác của chúng tôi, để chúng tôi không cò bị buộc phải giữ chúng nữa. Chúng tôi quá mệt mỏi với trận chiến này rồi, và chúng tôi không muốn gì khác hơn là quay về nhà. Nếu các ông không qua lấy, chúng tôi sẽ ném chúng xuống suối”.

Một giờ sau, người ta nghe một tiếng động mạnh giống như một vật gì nặng rơi xuống nước. Cái gì vậy ? Không ai biết. Nhưng khẩu đại bác đó cũng không thấy ở dưới suối và cũng không có tại chỗ họ bắn hôm qua.

Khoảng 3 giờ, Cố Nhơn đi báo thức các chiến sĩ để chuẩn bị tấn công. Khi họ bắt đầu vượt qua con suối thì cha quay trở lại nhà xứ và tìm một nơi để có thể quan sát họ trèo lên đồi. Bóng đêm còn bao phủ cả quả đồi nên không thể thấy gì cả. Cha chỉ biết chờ đợi… Cha quá sốt ruột không biết họ đang làm gì, đến đâu rồi, và tại sao lâu vậy, vì lẽ ra giờ này họ phải phá hủy tường rào của chúng. Trong khi đó thì các chiến sĩ ta không dám chặt cây quá mạnh vì sợ đánh thức chúng nên chặt nhè nhẹ. Khi họ thực hiện xong thì trời vừa sáng và quân Văn Thân đã bắt đầu xuất hiện rõ trên mỏm đồi. Tất cả chúng đang cột búi tóc và nhìn về hướng Cố Nhơn, vì cha đang đứng ở nơi trống trải nhất, nhằm mục đích lôi kéo sự chú ý của chúng, để cho các chiến sĩ ta trèo lên phía sau lưng họ. Nhưng sau đó thì quân Văn Thân ở phía bên kia đồi phát hiện được và kêu lên khiến chúng quay lại nhìn. Lúc này thì các chiến sĩ của ta cũng vừa kịp đến nơi và lập tức hô xung phong tấn công. Các chiến sĩ ta đã giết được vài tên, số còn lại tháo chạy. Ta hoàn toàn chiếm cứ đồi Kim Sơn và thu được 4 khẩu đại bác, 5 súng nhỏ và chục súng trường. Sau đó, ta châm lửa đốt doanh trại của chúng.

Ngày 12 tháng 9 là ngày rất vui mừng, niềm tin được tăng lên, nhưng chưa phải là hết. Thật vậy, quân Văn Thân bị mất hồn, nên từ đồi Bửu Châu (Non Trọc), cả ngày hôm đó lẫn ngày hôm sau họ không bắn lấy một phát đạn đại bác, tuy nhiên, họ vẫn bao vây giáo xứ cẩn mật. Nếu họ không tìm cách lấy lại đồi Kim Sơn mà họ đã để mất, thì họ lại không ngừng canh gác ở phía đồi bên kia (Non Trược) để ngăn chận không cho giáo dân liên lạc với bên ngoài. Mục đích của họ là giam đói cho đến cùng, vì nếu không chiến thắng bằng vũ khí thì ít ra cũng chiến thắng bằng đói khát. Và quả như thế, giáo xứ bắt đầu thiếu lương thực, ngay cả lương thực của Cố Nhơn cũng hầu như đã cạn, vì ngài phải nuôi một đoàn giáo dân đến lánh nạn ở đó mà họ chả có mang được gì đến. Thật nguy khó, người ta chỉ còn trông cậy vào Chúa, người ta hi vọng vào Đức Maria là Đấng không bỏ họ trong những ngày chịu đựng lâu dài này. Khắp nơi trong tỉnh phải khiếp vía vì những loạt đại bác khủng khiếp trong hai ngày trước, họ tin rằng Trà Kiệu thế là xong. Quân Văn Thân hỉ hả loan tin thắng trận và ca hát tưng bừng. Chúng đe dọa sẽ kéo ra Đà Nẵng. Để che đậy sự thất bại, chúng tấn công Phú Thượng, nhưng Cố Thiên đã chống cự mãnh liệt, khiến chúng lại kéo về Trà Kiệu. Lần này đứng đầu là một cựu đô đốc, ông Chưởng Thủy Tý. Chúng nhờ đến cái thiên tài quân sự của ông để tận diệt những “thằng Công giáo quỷ quái” một lần cuối cho xong.

Vì thế vào ngày 14 tháng 9, người ta thấy chúng tiến đến phía cánh Nam đông vô số kể. Từ sáng sớm, Cố Nhơn đã lên đồi Kim Sơn để quan sát các hoạt động của quân Văn Thân. Ngài không khỏi sửng sốt khi thấy tất cả cánh đồng phía Nam tràn ngập những đạo quân đang tiến về phía giáo xứ, trong khi vừa hò hét, vừa đánh trống. Ngài vội vả leo xuống để ban lệnh chuẩn bị một trận phản công. Ngài vừa về đến giữa đội quân của mình thì quân Văn Thân đã chiếm dãy thành Chiêm và bắt đầu dựng nên một hàng rào chuẩn bị cho trận chiến. Họ rất vội vàng, và một hàng rào đã được dựng lên một cách mau lẹ lạ thường. Cố Nhơn thấy rất nguy hiểm nếu để cho họ xây dựng và củng cố vị trí ngay trên thành Chiêm này, vì đây là cạnh sườn của giáo xứ. Ngài quyết định phải tấn công ngay. Về phía Đông, đội quân thứ 3 sẽ tiến lên đầu dãy thành Chiêm, nơi mà chúng chưa tràn tới, để từ đó có thể dồn lui quân Văn Thân, hoặc đánh tan chúng ở cánh đồng phía bên kia. Một phần của đội quân dự bị (đội 8) được tăng cường đến giúp đội 3. Trong khi đó, một phần quân dự bị còn lại giúp cho đội 1 tấn công mặt trước. Người ta tin chắc là sắp xảy ra một trận giao tranh ác liệt, và ai cũng chuẩn bị chiến đấu một cách dũng cảm. Nhưng thật ngạc nhiên, quân Văn Thân bắt đầu quay lui trước khi các chiến sĩ của ta tiến đến. Ông Chưởng thủy Tý kêu ầm lên và rất vất vả để ngăn chận chúng lại, nhưng chúng không dám đứng lại và bỏ mặc một mình ông, với khoảng 10 người bảo vệ cho ông. Khi thấy giáo dân tiến đến gần, chính ông cũng phải bỏ chạy nhưng quá muộn. Hai thanh niên Trà Kiệu rượt theo, toán cận vệ của ông cũng bỏ ông mà chạy thoát thân. Khi thấy bị đuổi kịp thì ông quay lại xin hai thanh niên đó tha cho được sống. Hai thanh niên bảo với ông rằng : “Nếu mày muốn sống, chắc mày đã không đem sự chết đến cho chúng tao, ơ đây không có sự dung tha”. Nói rồi họ đâm ông, lấy thanh kiếm và cắt đầu ông mang về. Chắc người ta sẽ nghĩ rằng : điều đó thật hung ác, không theo đúng quy luật tù binh (chiến trận). Ôi những người giáo hữu đáng thương, đối với họ, thì người ta có giữ luật lệ gì đâu. Dù trẻ hay già, đàn ông hay đàn bà, bất cứ ở đâu trong Tỉnh, tất cả đều bị người ta bắt và dẫn đến Trà Kiệu để treo cổ trước sự chứng kiến của cha mẹ họ. Dù đó là hung ác, nhưng tôi không muốn bỏ qua đoạn này, vì muốn kể lại tất cả mọi việc.

Ngày hôm đó, lần đầu tiên người ta thấy một con voi xuất hiện trong đội quân Văn Thân. Giáo dân chưa biết phải làm gì để đối phó với loại tấn công mới này, nên hết sức lo lắng, nhất là đối với phụ nữ, họ do dự không dám tham chiến. Bấy giờ, có một thanh niên xung phong đi đuổi nó. Cậu ta nói : “Cho tôi một bó đuốc cháy, và các anh sẽ thấy nó quay lưng lập tức”. Đúng vậy, với bó đuốc cháy rực, cậu ta tấn công, voi run sợ bỏ chạy dù cho thằng nài cố mà giữ nó lại. Cậu ta đuổi theo đâm vào sườn nó, nhưng không đủ sức để đâm thủng được. Thằng nài ngã xuống lủi trốn vào bụi rậm rồi vắt giò mà chạy trối chết. Từ đó, người ta không lo ngại voi nữa, mặc dù trong hai trận sau đó, họ cũng có đưa voi tham chiến, nhưng không thể chiến đấu với giáo dân được.

Ngày 15/9, không có trận đánh nào. Quân Văn Thân tập trung củng cố lực lượng ở phía Đông chung quanh đồi Non Trọc. Dưới chân đồi Non Trọc, ở phía bên kia thuộc phần đất của dân bên Lương, có một nơi đóng quân chính của quân Văn Thân. Đó chính là đình làng ngũ xã, mái lợp ngói, tường xây gạch, xinh xinh… Ở đó còn có 2 hay 3 ngôi chùa, 1 tăng viện, cũng đều xây bằng gạch, lợp ngoái. Khi bị rượt đuổi khỏi đồi Kim Sơn, quân Văn Thân đã chọn nơi này làm bản doanh chính của họ và họ bắt đầu củng cố để có nơi ẩn núp khi bị đột kích bất ngờ. Súng thần công của họ đặt trên đồi Non Trọc dể bắn vào giáo xứ, nhưng đều thất bại, nên từ đó họ ít bắn vào nhà thờ, nhà cửa, mà lại nhằm bắn vào người. Đại bác bắn đạn ria (sắt vụn), một phát có chừng 80 đến 100 viên đạn ria, được bọc trong một các giỏ mây và khi rơi xuống sẽ tung tóe ra chung quanh. Một lần Cố Nhơn núp sau một bụi tre, thì bị trọn một quả đạn ria này, giống như một cơn mưa đạn. Thoạt đầu, cha nghĩ là chết thôi, và theo bản năng tự nhiên, cha đưa tay rờ khắp thân thể và cha không thể tin là mình còn sống và không hề hấn gì.

Ôi các giáo hữu đáng thương, họ thoát được cuộc bao vây và tấn công này và không bị giết, chắc chắn đó là họ được Đức Mẹ Đồng Trinh che chở cách riêng. Nhưng chúng ta phải tiếp tục theo dõi, vì chúng ta chưa biết được kết quả cuối cùng của cuộc bao vây tấn công này.

Ngày 16/9 có 3 trận giao chiến, hai trận diễn ra ở bãi cát phía Bắc. Quân Văn Thân thích chọn phía này làm bãi chiến trường, vì ở đây không có gì cản trở sự tháo chạy của Văn Thân, rồi chờ lúc thuận lợi chạy đến nấp sau một tảng đá lớn chờ leo lên đồi. Khi phát hiện giáo dân tấn công, các vị chỉ huy Văn Thân kêu ầm lên, bảo quân lính ngăn chận giáo dân đang tiến lên. Voi được thúc ra trận, nhưng voi lại không chịu đi, mặc dù thằng nài không ngừng giáng những cú búa tạ liên tục. Và lạ thay, thay vì tiến lên thì nó lại lùi. Thằng nài kêu lên với các vị chỉ huy của nó rằng : “Voi sợ đám đông giáo dân không dám tiến lên”. Rồi nó la lên : “Hãy nhìn kìa, đạo quân trẻ nhỏ xuống từ trên các lũy tre, chạy là tốt nhất. Người công giáo đông quá”.

Giáo dân nghe những lời đó rất rõ ràng, nhưng không thấy gì cả. Cuối cùng thì một trong 10 thanh niên đội 4 đã leo lên được trên ngọn đồi và tìm cách bắn một phát súng vào tên lính đang canh gác trên đỉnh đồi. Một trong những người chỉ huy ngã xuống, những tên còn lại vội vàng tháo chạy. Giáo dân lợi dụng thời co tiến lên đỉnh đồi trước sự run sợ của quân Văn Thân, và chúng đã tháo chạy xa từ 15 km đến 20 km mới dám ngừng lại, vì sợ người Công giáo rượt theo. Khi Trà Kiệu được giải vây, thì lập tức các đình làng, chùa chiền, tu viện Phật giáo đều bị đốt cháy. Tin giáo dân Trà Kiệu chiến thắng loan đi khắp vùng, làm cho dân ngoại bắt đầu lo sợ một cuộc báo thù. Trong doanh trại Văn Thân, giáo dân tìm được 3 khẩu đại bác, một vài khẩu súng nhỏ, nhiều nhất là thuốc súng và quân nhu. Khi tìm kiếm ở đây, thấy rất ít lúa gạo, giáo dân mới đoán rằng : quân Văn Thân đã cất giấu lương thực ở tận cuối làng. Và không để mất thời giờ, giáo dân liền chạy đến truy tìm. Và quả đúng thế, ở đây họ tìm thấy một số lượng gạo rất lớn. Suốt ngày hôm đó, giáo dân lo vận chuyển lương thực về giáo xứ. Đến chiều, khi mọi việc đã xong xuôi, với tinh thần vui mừng hớn hở, họ kéo về tạ ơn Chúa, Đức Mẹ, các Thiên Thần đã tham dự vào cuộc chiến giúp họ. Tâm hồn tràn ngập niềm vui khôn tả, thay vì phải chết đói, hay chết trong vòng vây của quân thù, thì bây giờ họ đã được cứu sống, đã chiến thắng hoàn toàn.

Cuộc bao vây tấn công kéo dài 21 ngày đêm, giáo xứ Trà Kiệu mất đi 15 nam nhơn và 25 người bị chết do tạc đạn bên ngoài cuộc giao chiến. Về tổn thất của quân Văn Thân thì không thể nào biết chính xác được, nhưng có thể nói mà không sợ lầm, là số tử thương lên trên 300 người.

Ngày 22/9, giáo dân tiếp tục triển khai chiến thắng của mình và đã trừng trị những tên đầu sỏ ở những làng chung quanh, những kẻ đã gây nên hận thù với giáo xứ, cũng như chúng cuồng nhiệt chi viện cho quân Văn Thân. Giáo dân không gặp sự kháng cự nào cả. Dân ngoại hoặc lập tức đầu hàng, hoặc vội vàng tháo chạy. Nhiều làng đến xin lỗi vì họ bị quân Văn Thân ép buộc phải chi viện, và họ hứa là không còn phân chia lương giáo nữa. Cố Nhơn rất khoan dung và ngài còn đề phòng sợ giáo dân của ngài trả thù các làng chung quanh, vì họ không tin các làng đó đã thành thật quy hàng, nên ngài đã đưa ra nhiều quy định và sẽ có hình phạt nghiêm khắc đối với giáo dân nào vi phạm.

Về phần quân Văn Thân, sau khi tháo chạy, chúng tập trung về thủ phủ tỉnh Quảng Nam và gởi lệnh đi khắp nơi để lập lại đoàn quân mới. Chúng hăm dọa những ai từ chối theo chúng.

Ngày 23/9, chúng khởi hành từ thủ phủ Quảng Nam và hướng về Trà Kiệu, mang theo một khẩu đại bác cỡ lớn và chừng 10 quả tạc đạn. Khi vượt qua hồ Chợ Củi (Câu Lâu), cách Trà Kiệu chừng 5 km, thì chúng nghe một tiếng nổ khủng khiếp và chúng biết rằng quân Pháp đã dùng mìn để đánh sập cổng ra vào thủ phủ, và như thế là thủ phủ đã bị chiếm cứ. Vì thế, họ lập tức bỏ khẩu đại bác lại đó, và vất những quả tạc đạn ở cánh đồng bên cạnh rồi chạy trốn. Biết được những việc vừa xảy ra ở làng Chợ Củi, Cố Nhơn cho người đến lấy những quả tạc đạn này, còn khẩu đại bác thì bỏ lại vì nó quá nặng.

Kể từ ngày đó, trong một thời gian khá dài, quân Văn Thân không còn thấy xuất hiện nữa…

Cuối cùng vào ngày 20/4/1886, Trà Kiệu lại bị bao vây một lần nữa vào khoảng 2 giờ sáng. Cuộc tấn công này không kéo dài, vào lúc rạng sáng thì quân Văn Thân lại tan rã.

———————————-

Chú thích của người dịch :

1- Các ngày đáng nhớ :

+ Ngày 01/9/1885 : Quân Văn Thân bắt đầu bao vây Trà Kiệu.

+ Ngày 10-11/9/1885 : Đức Mẹ hiện ra

+ Ngày 21/9/1885 : Trà Kiệu hoàn toàn chiến thắng.

2- Sau biến cố đau thương ở Trà Kiệu, Cha Geffroy đã đến Trà Kiệu và ở lại đó trong khoảng thời gian dài (3 hay 4 tháng) để tìm hiểu tường tận và nhất là để nghe chính Cố Nhơn cũng như những người trực tiếp tham chiến kể lại. Vì thế mà ngài đã ghi lại rất tỉ mỉ và đầy đủ suốt 21 ngày đêm bị bao vây tấn công, và ghi từng ngày một.

HƯỚNG VỀ ĐẠI HỘI THÁNH MẪU TRÀ KIỆU 2016

KỶ NIỆM 131 NĂM ĐỨC MẸ HIỆN RA TẠI TRÀ KIỆU

Ban MVTT/GP (WGP.Đà Nẵng 25.06.2016)