Câu đối ở Cổng đền An Sinh

1 bình luận



NỘI DUNG CÂU ĐỐI Ở CỔNG ĐỀN AN SINH

Nhờ bạn Khế Và Ổi (https://www.facebook.com/khe.vaoi) dịch, tổng hợp và xin đăng lên như sau:

CỔNG CHÍNH

Nội dung câu đối ở cổng chính vào đền An Sinh (An Sinh Từ) ở Khu di tích nhà Trần tại Đông Triều.

Phù quốc tộ bảo hồng đồ đồng nhật nguyệt quang huy vạn cổ
Kí dân khang kì vật thịnh tịnh sơn hà tráng cố thiên thu


Nghĩa là:
Giúp nước phúc, giữ cơ đồ cùng nhật nguyệt sáng soi muôn thuở
Mong dân yên, cầu thịnh vượng với sơn hà bền vững nghìn thu


CỔNG PHỤ BÊN TRÁI:
Câu đối ở cổng phụ bên trái (từ đền An Sinh nhìn ra)

Tòng Phật pháp điện sơn hà Thiền tông sáng thủy
Cứu lê dân an Đại Việt cao đạo hà xương


Nghĩa là:

Theo Phật pháp, định sơn hà Thiền tông khai sáng
Cứu dân đen, yên Đại Việt đạo lớn rạng ngời


Hai câu đối này ám chỉ vua Trần Nhân Tông đi tu sáng lập phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử.
Hai chữ lớn trên câu đối là Vạn Kiếp (chỉ chiến thắng Vạn Kiếp thời Trần)


CỔNG PHỤ BÊN PHẢI

Câu đối ở cổng phụ bên phải (từ đền An Sinh nhìn ra)

Vạn Kiếp hề cao sơn nghiễm nghiễm tôn an toàn Việt địa
Lục Đầu hề đại hác thao thao táng thư bạo Nguyên binh


Nghĩa là:

Vạn Kiếp chừ núi cao uy nghiêm trấn giữ đất Việt
Lục Đầu chừ sông lớn cuồn cuộn vùi hại quân Nguyên


Hai câu đối này nhắc đến việc quân nhà Trần đã giết Ô Mã Nhi tại trận chiến trên sông Lục Đầu sau khi giặc đem quân vào Vạn Kiếp theo hai đường thủy, bộ.
Hai chữ lớn trên câu đối là Chương Dương, nhắc đến trận chiến tại bến Chương Dương tướng Trần Quang Khải đuổi giặc Thoát Hoan phải chui ống đồng chạy trốn.

Cám ơn bạn Khế Và Ổi (Huỳnh Nhật Hà)



LỊCH SỬ VỀ ĐỀN SINH - NGÔI ĐỀN THỜ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ TRIỀU TRẦN TẠI ĐÔNG TRIỀU, QUẢNG NINH


Nằm trong hệ thống di tích nhà Trần tại Đông Triều, cách không xa thị trấn Đông Triều có một ngôi đền được coi là một trong số những công trình tín ngưỡng tâm linh thiêng. Đền An Sinh, ngôi đền lớn thờ tự các vị vua Trần, xưa Đền còn được gọi là Điện An Sinh. Đền toạ lạc trên một đồi đất thoai thoải giữa vùng linh địa ở thôn Trại Lốc, xã An Sinh, huyện Đông Triều. Phía sau đền gồm các lăng miếu các vua Trần được cũng được xây dựng ở vùng đất này. Đây là một di tích cổ nằm trong quần thể khu di tích đền thờ lăng mộ các vua Trần ở huyện Đông Triều.

Theo nội dung văn bia tại đền An Sinh do ông Hoàng Giáp, Viện Nghiên cứu Hán Nôm sưu tầm và dịch tại Thông báo Hán Nôm năm 2002, Hà Nội, 2003, trang 164 thì Ngũ vị hoàng đế triều Trần được thờ tại điện An Sinh gồm có: "Anh Tông hoàng đế, mất ngày 16 tháng 3 năm Canh Thân (1320). Táng tại lăng xứ Đồng Thái, 65 mẫu. Minh Tông hoàng đế, mất ngày 19 tháng 2 năm Đinh Dậu (1357). Táng tại lăng xứ Đồng Mục, 65 mẫu. Dụ Tông hoàng đế, mất ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Dậu (1369). Táng tại lăng Phụ Xứ, 65 mẫu. Phụ Xứ tục gọi là xứ Đống Mối. Nghệ Tông hoàng đế, mất ngày 15 tháng 12 năm Giáp Tuất (1394). Táng tại xứ Đồng Hỷ, 65 mẫu. Tục truyền là Chiêu lăng. Khâm minh Thánh vũ hiển đạo An Sinh hoàng đế, mất ngày 2[…] tháng 10 năm Tân Hợi, táng tại xứ Đồng Sinh, 65 mẫu. Nghi mất vào ngày 1 tháng 4…". Trong năm vị được thờ tại Điện An Sinh trong lịch sử, có một nhân vật được tôn làm hoàng đế mặc dù chưa nắm ngôi vị lần nào đó là Trần Liễu (An Sinh vương- anh trai của vua Trần Thái Tông) với hiệu Khâm minh thánh vũ hiển đạo An Sinh hoàng đế. Vùng đất An Sinh xưa chính là Thái ấp đầu tiên tại vùng đất Đông Triều mà người em trai vua Trần Thái Tông đã ban cho Trần Liễu.

Sự kiện lịch sử năm 1381 theo văn bia còn lưu giữ tại đền An Sinh thì năm 1381, để tránh nạn người Chiêm sang cướp phá, nhà Trần đã chuyển các lăng mộ về An Sinh Đông Triều, sau lăng mộ vua Trần Anh Tông là công trình lăng tẩm đầu tiên của nhà Trần xây dựng trên đất Đông Triều năm 1320. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: "Tháng 6, rước thần tượng các lăng ở Quắc Hương, Thái Đường, Long Hưng, Kiến Xương đưa về lăng lớn ở Yên Sinh để tránh [nạn] người Chiêm Thành vào cướp”. Theo văn bia và lệnh chỉ tại đền An Sinh thì tên điện An Sinh được nhắc đến sớm nhất trong bia ký là năm Chính Hòa 11 (1690), bia có tên Trần triều bi ký, bia này được khắc lại vào năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) nội dung ghi lại ngự vị các vua Trần an táng tại An Sinh; bia Trùng tu tự bi ký năm thứ 7 (1711) có nhắc đến việc phân công người của chúa Trịnh để trông nom điện An Sinh. Như vậy, có thể thấy điện An Sinh nơi thờ ngũ vị hoàng đế tồn tại ít nhất đến thời Lê và sau đó được xây dựng lại để thờ Bát vị hoàng đế triều Trần ở thời Nguyễn. Cũng theo nội dung văn bia Trần triều bi ký có ghi: "…Miếu công chúa Ai Lao tại xứ Cây tùng, điện An Sinh, 19 mẫu, 9 sào". Cùng với việc thờ ngũ vị hoàng đế thì tại điện An Sinh còn có miếu thờ công chúa Ai Lao - Linh Xuân, công chúa là người tài đức vẹn toàn nên đã được triều đình nhà Trần và nhân dân lập miếu thờ. Bia Thừa lập hậu thần bi ký dựng năm Cảnh Hưng thứ 28 năm 1767 có ghi nội dung trùng tu điện An Sinh và miếu công chúa Ai Lao - Linh Xuân. Hệ thống văn bia này hiện vẫn còn được lưu giữ tại đền An Sinh.

Theo Trần triều Thánh tổ các xứ địa đồ, năm Bảo Đại thứ 17 (1944) thì quy chế điện An Sinh được chia làm ba tòa với ba cấp nền khác nhau. Tòa trong cùng nền dài 3 trượng (9,9m); rộng 2 trượng 2 (7,2m); tòa giữa nền dài 2 trượng (6,6m) và tòa ngoài cùng có nền dài 3 trượng 5 (11,55m); rộng 2 trượng (6,6m); xung quanh điện có hai lớp tường đất bao, hai lớp tường cách nhau 2 trượng (6,6m); tường đất phía ngoài giáp lăng Tư Phúc ở phía đông bắc có chiều dài 15 trượng (49,5m).

Vào thời Nguyễn điện được xây dựng lại với kiến trúc gồm ba tòa nhà rộng 5 gian theo kiểu chữ tam. Lúc này trong đền thờ tám vị hoàng đế, với ý nghĩa thờ tám vị thánh triều Trần. Hai bên có các dãy nhà khách và dãy nhà cho người coi đền ở. Ngoài ra bên cạnh đền có hai miếu nhỏ, một cái thờ Bà Hoàng và một cái (phía trái của đền) thờ đức Thánh Khổng Tử. Chung quanh có thành bao bọc rộng. Phía trước cửa có bia nhỏ đề "Hạ mã" và "Tiêu diệc".

Trải qua thời gian sự hủy hoại của thiên nhiên cũng như chiến tranh tàn phá điện An Sinh chỉ còn lại phế tích, theo tư liệu khảo sát thực địa về điện An Sinh của Viện Mỹ thuật Mỹ nghệ trung ương tháng 6 năm 1968 thì điện An Sinh có một thời gian được sử dụng làm trường học cho học sinh miền Nam. Khu này vốn là một vùng bãi rộng, sau ngày hòa bình, Bộ Giáo dục cho dựng nhiều nhà gạch để lập trường học cho những học sinh từ miền Nam ra tập kết. Giai đoạn năm 1997-2000, với nghĩa cử uống nước nhớ nguồn, tri ân tiên tổ, huyện Đông Triều được sự ủng hộ của tỉnh và hảo tâm công đức của nhân dân trong vùng đã đứng ra khôi phục lại ngôi đền, đền được khởi công xây dựng lại trên mặt bằng của nền đền cũ.

Hệ thống đền mới gồm hai khu vực: Khu nội tự: có diện tích khoảng 1000m2 là khu vực hiện được bao bọc bởi hệ thống tường rào xây gạch. Khu này hiện có các công trình kiến trúc: Cổng chính điện, tả - hữu vu, nhà bia công đức, sân vườn và một số công trình phụ trợ khác. Tòa chính điện có bố cục mặt bằng hình chữ công, hậu cung là nơi đặt tượng thờ tám vị vua Trần gồm: Thái Tông, Thánh Tông, Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông, Nghệ Tông và Giản Định; tòa trung cung đặt tượng thờ Trần Hưng Đạo; tiền đường đặt bát hương công đồng và một số đồ tế khí.Tại đền còn lưu giữ được một số các di vật: hệ thống các tảng kê chân cột (bằng đá xanh và đá cát kết), thềm bậc đá, tượng đá (tượng quan hầu), bia đá (03 bia trong đó có 02 bia thời Lê, thế kỷ XVIII; 01 bia thời Nguyễn thế kỷ XIX); bát hương đá; đồ đồng. Đặc biệt là rất nhiều vật liệu và cấu kiện trang trí kiến trúc bằng đất nung (từ thế kỷ XIV - XVIII): mảnh tháp, gạch, ngói, các linh thú… đây là tập hợp các di vật được sưu tầm tại các điểm di tích thuộc đền và các lăng miếu vua Trần trong những năm gần đây. Khu giáp ranh: là toàn bộ phần đất vườn được Ủy ban nhân dân huyện giao cho các hộ dân thuê để trồng cây ăn quả lâu năm, nuôi thả cá, diện tích khoảng 10 ha.

Lễ hội của đền An Sinh, được lấy ngày khánh thành đền vào 20/8 âm lịch cũng là ngày giỗ của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn để tổ chức. Lễ hội được diễn ra trong 3 ngày, trong lễ hội có phần lễ gồm tế lễ của nhân dân các xã xung quanh khu vực đền, dâng hương tưởng niệm các vị vua Trần tại đền và các lăng của vua Trần; phần hội gồm các mục diễn xướng các tiết mục văn hóa, văn nghệ kèm theo đó là các trò chơi dân gian phục vụ trong các ngày hội của đền.

copy của tác giả Nguyễn Trung Dũng (phòng TT-QB) (BQL các Di tích trọng điểm QN). Cám ơn

Hai ngôi mộ bị xiềng ở Đà Nẵng

0 bình luận

Từ những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, những cư dân sinh sống ở vùng đất phía tây bắc của huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng, đã phát hiện thấy sự kỳ lạ của 2 ngôi mộ cổ bị xiềng xích sắt nằm ở nơi rất heo hút giữa cỏ tranh ngút ngàn.
Một nằm trên đất của làng Vân Dương, xã Hòa Liên, và một nằm trên đất của làng Khê Lâm, xã Hòa Sơn. Các bậc cao niên ở hai làng này thường kể lại với con cháu rằng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, quan chức địa phương cấm tiệt người dân bén mảng đến 2 ngôi mộ bị xích và cũng không có ai trong làng dám nhận người nằm dưới mộ là họ hàng của mình vì sợ nhiều hệ lụy.

Tuy nhiên, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng ở huyện Hòa Vang đã cử phái đoàn mang hương hoa đến vái tạ và làm lễ chặt bỏ những sợi xích đã một thời gian dài xiềng ngang trên 2 ngôi mộ cổ này để "giải phóng cho linh hồn của người đã khuất…", đồng thời công khai một cách rõ ràng nhân thân và công trạng của người nằm dưới mộ để cho nhiều người biết, để cho con cháu của những người này nhận mộ tu sửa, hương khói sớm chiều…

Ông Hồ Như Kỷ và Hồ Như Sơn ở làng Vân Dương gọi người nằm dưới ngôi mộ là ông cố nội. Theo hai người chắt nội này, ông cố nội của họ là chiến tướng Hồ Học, quê ở làng Vân Dương, tổng An Hòa, huyện Hòa Vang (nay là huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng). Ông là người sớm có tinh thần yêu nước và chống Pháp một cách quyết liệt. Hưởng ứng phong trào Nghĩa Hội ở Quảng Nam, Hồ Học ra sức chiêu mộ nghĩa binh đến cả nghìn người, tự trang bị các loại vũ khí để phục kích đánh Pháp.

Lúc bấy giờ, trên khắp địa bàn Hòa Vang, quân của Hồ Học đóng ở đâu cũng được bà con nhân dân ủng hộ không những về mặt tinh thần mà còn góp thêm thóc gạo, heo gà, tiền bạc để duy trì chiến đấu. Chính Hồ Học đã chỉ huy một toán quân mật phục trên đỉnh đèo Hải Vân để tiêu diệt tên đại úy Besson và đơn vị lính do Besson làm chỉ huy ở Trạm Nam Chơn vào ngày 1/3/1886.

Hưởng ứng phong trào Cần Vương ở Quảng Nam (hay còn gọi là phong trào Nghĩa Hội ở Quảng Nam), Hồ Học đã mang theo quân lính gia nhập vào đoàn quân của thủ lĩnh phong trào Nghĩa Hội Trần Văn Dư và vị tướng tài số một của Nghĩa Hội là Nguyễn Hàm (tức Tiểu La Nguyễn Thành). Ông Trần Văn Dư sinh năm 1839, quê ở làng An Mỹ Tây, huyện Tam Kỳ (nay thuộc phường Tam An, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam). Ông đỗ tiến sĩ năm 1875, làm Án sát Hà Tĩnh, Giảng tập ở Dưỡng Thiện đường dạy cho hai hoàng tử Ưng Đăng và Chánh Mông (sau này là vua Dục Đức và Đồng Khánh), rồi ông được bổ làm Chánh sứ Sơn phòng Quảng Nam.

Năm 1885, ông Trần Văn Dư hưởng ứng phong trào Cần Vương đánh chiếm tỉnh thành Quảng Nam ở La Qua (Điện Bàn ngày nay). Tháng 12/1885, do quá tin vào tình nghĩa thầy trò với vua Đồng Khánh nên ông đã thuận tình lên đường ra Huế để thương thuyết và vì vậy mà đã bị Châu Đình Kế, Tuần vũ Quảng Nam mượn tay thực dân Pháp sát hại tại Điện Bàn vào ngày 13/12/1885.

Vào cuối năm 1886, quân Pháp và quân Nam triều dưới sự chỉ huy của viên đại tá Braxcini mở cuộc hành quân lên Ái Nghĩa thuộc huyện Đại Lộc (Quảng Nam) để truy lùng quân của Nghĩa Hội. Các chiến tướng của Nghĩa Hội đã đem quân mai phục ở những địa thế hiểm trở, chờ đến nửa đêm khi quân địch đang mệt mỏi ngủ say thì bất ngờ tấn công. Bị đánh bất ngờ, địch phải mở đường máu để chạy về Thu Bồn dựa vào quân Pháp đang đồn trú tại đây.

Thừa thắng xông lên, quân của Nghĩa Hội xông thẳng vào đồn giặc, đánh dồn dập làm địch ở đây trở tay không kịp đành phải kéo nhau bỏ Thu Bồn chạy dài về Đà Nẵng. Quân của chiến tướng Hồ Học đã mở cửa nhà tù để giải phóng cho những người yêu nước bị giặc bắt giam, đa số những người này sau khi thoát khỏi ngục tù đã tham gia vào phong trào Nghĩa Hội.

Sau khi Trần Văn Dư bị sát hại, đầu năm 1886, Nguyễn Duy Hiệu đã thay thế để làm hội chủ. Giai đoạn này, phong trào phát triển rất mạnh, các chiến tướng cùng với nghĩa binh của mình lập nên nhiều phòng tuyến và gần như làm chủ toàn bộ vùng nông thôn. Hồ Học là người chỉ huy dũng cảm, có tài cầm quân, đánh thắng quân Pháp nhiều trận nên tiếng tăm lẫy lừng. Hội chủ Nguyễn Duy Hiệu đã giao cho ông quản lý vùng đất đai rộng lớn từ đèo Hải Vân đến An Ngãi Đông. Lợi dụng địa hình đồi núi hiểm trở, ông đã xây nhiều đồn lũy thành một thế trận liên hoàn, hỗ trợ lẫn nhau trong phòng thủ và tấn công.

Trong một trận đánh ở Hố Chiếu, quân Pháp đông gấp 4 lần nghĩa quân, lại có quân tiếp viện, nên nghĩa quân chỉ cầm cự được một ngày thì đồn luỹ bị đại bác của chúng san phẳng. Hồ Học cùng nhiều tướng lĩnh của ông như Tán Bùi, ông Đốc Sành, ông Lãnh Địa, Cai Á, Cai Cải đều bị bắt. Chúng giải ông về Ty Niết (tức Ty án sát của Nam triều) ở Hội An tra hỏi.

Đích thân một viên đại tá Pháp từ Hà Nội vào cùng với viên án sát Quảng Nam hỏi cung chiến tướng Hồ Học. Chúng dụ dỗ ông khai báo nơi ở của thủ lĩnh Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến và các bí mật của Nghĩa Hội thì nghĩa quân sẽ được tha. Hồ Học giận dữ quăng cả chiếc ghế vào tên đại tá Pháp. Chiếc ghế vừa quăng đi, bọn lính bảo vệ đã bắn chết ông. Giặc Pháp còn giết các ông Tán Bùi, Đốc Lãnh, Lãnh Trinh, Cai Á, Cai Cải. Chúng chặt đầu họ bỏ vào giỏ treo trên bờ sông của làng Lai Nghi (gần Hội An) để uy hiếp nhân dân.

Phải đến 10 ngày sau, những nghĩa binh thân tín của ông mới lấy được xác mang về giao cho người nhà chôn cất tại làng Vân Dương. Do chiến tướng Hồ Học bị triều đình nhà Nguyễn khép vào tội "phản nghịch", vì vậy ngôi mộ của ông bị chính quyền lúc bấy giờ xiềng lại bằng một sợi xích. Hiện tại, mộ của chiến tướng Hồ Học đã được đưa về Nghĩa trang xã Hòa Liên để hương khói.



Mộ Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch và phu nhân tại quê nhà Khê Lâm. Ảnh: An ninh thế giới.


Về ngôi mộ cổ bị xiềng ở làng Khê Lâm, xã Hòa Sơn, cũng có rất nhiều bí ẩn mà phải đến sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền Việt Minh của huyện Hòa Vang đến làm lễ phá xiềng thì nhiều người mới tỏ tường danh phận của người nằm dưới mộ. Trước đó, không ai dám bén mảng đến gần ngôi mộ, chỉ dám rỉ tai nhau rằng ngôi mộ bị xiềng xích sắt ấy chính là mộ phần của Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch, một người chống Pháp và ủng hộ triệt để phong trào Cần Vương.

Theo tác giả Lâm Quang Thạnh (chắt ngoại của Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch), trong bài "Gương hiếu học, yêu nước của một triều thần" thì Nguyễn Hữu Lịch thường được gọi là Quan Khâm, quê ở làng Khê Lâm, tổng Phước Tường thượng (nay là xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang). Tổ tiên của ông vốn là người đất Hải Dương theo chân vua Lê Thánh Tông vào nam mở cõi và ngụ lại ở làng Thanh Quýt, thuộc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Đến đời thứ 8, ông Nguyễn Hữu Sao di cư đến vùng đất bán sơn địa nằm về phía tây bắc của huyện Hòa Vang để khai hoang lập hóa và được sắc phong là tiền hiền của làng Khê Lâm. Ông có 6 người cháu nội, người thứ ba là Nguyễn Hữu Lịch rất ham học và được thân sinh là ông Nguyễn Hữu Thành rất ưu tiên, chắt chiu từng đồng bạc để lo cho chuyện học hành.

Ở nơi sinh cơ lập nghiệp không có thầy giỏi, ông Thành khăn gói mang con về quê cũ ở Thanh Quýt để tìm thầy. Rồi Nguyễn Hữu Lịch xin cha vượt sông Túy Loan, vào tận Đại Lộc để tìm thầy giỏi xin theo học. Năm 1868, Lần thứ hai Nguyễn Hữu Lịch vượt Ải Vân quan để ra kinh ứng thi và đỗ đạt. Người học trò nghèo đã trở về quê nhà trong sự đón tiếp của dân làng. Sau đó, ông trở lại kinh đô để nhận nhiệm vụ ở Bộ Binh dưới trướng của Thượng thư Tôn Thất Thuyết, rồi dần thăng đến chức Lang Trung.

Ông Lâm Quang Thạnh kể rằng, mỗi lần ở Huế về thăm nhà, người dân quê đều cảm phục đức độ của ông với tổ tiên, ông bà và bà con hàng xóm. Lần đầu về quê bằng kiệu qua đèo Hải Vân, vào đến quê mẹ Khánh Sơn là ông xuống kiệu đi bộ. Dân làng lấy chiếu trải xuống đường đón rước, ông không bước lên chiếu và ôn tồn nói: "Các cụ, các bác đừng làm thế, tôi là cháu ngoại làng ta, con cháu trong nhà cả mà". Dân làng cảm động không giữ lễ nghi cách biệt nữa.

Với giới trẻ, ông khuyên cố gắng học hành, quê mình nghèo, nước mình đang gặp nạn cần đến tài năng tuổi trẻ. Ông luôn nhấn mạnh đến quốc nạn. Lúc bấy giờ quân Pháp đã chiếm xong lục tỉnh Nam Kỳ và đưa quân ra đánh Bắc Kỳ. Trong triều chia làm 2 phái chủ chiến và chủ hòa, ông tích cực đứng về phái chủ chiến của Thượng thư Tôn Thất Thuyết.

Giữa lúc đó, vua Tự Đức băng hà, quân Pháp thừa cơ kéo hạm đội đến đánh chiếm cửa biển Thuận An, khiến triều đình hoảng hốt ký Điều ước Hác-măng nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và cắt 3 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh nhập vào Bắc Kỳ trao cho quân Pháp. Phái chủ hòa đã đành phải đầu hàng, quân Pháp lấn tới đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ 2 buộc triều đình phải ký Hiệp ước Pa-tơ-nốt (năm 1884) đặt cơ sở lâu dài cho quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam.

Để xoa dịu phái chủ chiến, Hiệp ước Pa-tơ-nốt có điều khoản trả lại 3 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh cho Trung Kỳ. Nhân cơ hội đó, Thượng thư Tôn Thất Thuyết tiến cử Lang Trung Nguyễn Hữu Lịch làm Khâm sai Thanh - Nghệ - Tĩnh sung Đổng lý tỉnh Thanh Hóa. Phái chủ hòa cho đó cũng là dịp phân tán lực lượng của phái chủ chiến nên cũng thuận tình không phản đối.

Ra Thanh Hóa, Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch bắt tay ngay thực hiện kế hoạch chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Ông đã xây dựng nhiều đồn sơn phòng, ở miền Tây cả ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh, lập các đội quân "Đoàn kiệt" và "Phấn nghĩa" ra sức luyện tập chờ ngày quyết chiến với quân thù. Trên cương vị Khâm sai, ông đã vào Hà Tĩnh viếng thăm Tiến sĩ Phan Đình Phùng cùng làm quan trong triều vì xung đột giữa phái chủ chiến và chủ hòa phế lập các vua, bị cách chức về quê.

Đến khi vua Hàm Nghi ra Tân Sở xuống hịch Cần Vương, Phan Đình Phùng hưởng ứng phất cờ khởi nghĩa Hương Khê; Phạm Bành, Đinh Công Tráng khởi nghĩa ở Ba Đình, Thanh Hóa, ông đã có nhiều hoạt động bí mật hỗ trợ. Ông đã dồn sức giúp đỡ xây dựng một cứ điểm kiên cố để chỉ đạo thống nhất toàn tỉnh và một căn cứ hậu bị đề phòng rút lui khi cần. Đó là cứ điểm Ba Đình giữa vùng chiêm trũng mênh mông và căn cứ sơn phòng Mã Cao trên vùng núi trùng điệp phía tây.

Năm 1887, nghĩa quân Thanh Hóa thất bại ở Ba Đình rút lên Mã Cao, thực dân Pháp cũng bị thiệt hại nặng nề khi phải huy động đến 3.000 quân thuộc mọi binh chủng, có trọng pháo và pháo hạm yểm hộ ngày đêm vây hãm mới đánh chiếm được Ba Đình. Chúng đã hèn mạt trả thù bằng cách triệt hạ cả 3 làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh xóa tên trên bản đồ của Nam Triều và bắt triều đình hoạch tội Đổng lý Nguyễn Hữu Lịch bằng bản án tuyên vắng mặt "Tam ban triều điển" (gồm chén thuốc độc, một dải lụa để tự thắt cổ và một thanh kiếm để tự sát).

Ông đã bình thản đón nhận 3 vật "tam ban" từ Huế mang ra (do vua Đồng Khánh ban cho để tự chọn). Không hướng về Kinh thành mà hướng về căn cứ sơn phòng Phú Gia (huyện Hương Khê, Hà Tĩnh) nơi vua Hàm Nghi đang ngự tránh, bên cạnh khu Ngàn Trươi của nghĩa quân Phan Đình Phùng, ông kính cẩn vái lạy. Song, ông quay lại phía thuộc hạ lưu luyến làm hiệu vĩnh biệt rồi bưng "tam ban" vào phòng đóng chặt cửa.

Sáng hôm sau, thuộc hạ phá cửa vào thấy ông đã dùng kiếm tự sát trong tư thế ngồi uy nghi lẫm liệt. Một cái chết bi hùng kết thúc cuộc đời cương trực của một chí sĩ chống Pháp kiên cường giữa chốn triều đình bán nước. Đó là vào năm Đinh Hợi - 1887 trước năm vua Hàm Nghi sa lưới giặc bị đày sang Algerie.

Những ngày sau đó, một thuộc hạ thân cận của ông đã cẩn thận đánh dấu phần mộ nhưng mãi năm sau mới dám đưa con trai ông là Nguyễn Hữu Sinh từ Quảng Nam lặn lội ra Thanh Hóa nhận mộ. Một nấm cỏ xanh rờn giữa bốn bề vắng lặng, không bia mộ, không hương khói trong thành nội Thanh Hóa…

Phải chờ đến hết đời Đồng Khánh đến vua Thành Thái khi các cuộc khởi nghĩa của Phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh chấm dứt, con cháu ông mới bí mật ra Thanh Hóa bốc mộ đưa hài cốt về Khê Lâm. Mộ ông ở quê nhà cũng chỉ là mộ đất không đặt bia để giữ bí mật, nhưng không ngờ một hôm quân lính triều đình đã mang xiềng xích sắt và tập hợp hương hào, tổng lý kéo đến xiềng mộ ông giao cho địa phương quản thúc phần hài cốt lẫn vong linh.

Chèn hình ảnh vào Việt Nam Gia phả

9 bình luận

Trước kia ta có thể chèn hình ảnh vào Việt Nam gia phả trực tiếp trên web, nhưng nay đã ngưng rồi. Nhận thấy nhiều người muốn có hình ảnh trong gia phả để thêm phần "hoành tráng", nên tôi viết một hướng dẫn nhỏ để các bạn có thể chèn hình ảnh trong phần phả ký, thủy tổ, tộc ước, hương hỏa và trong phần chi tiết cá nhân từng người từ chức năng cập nhật của phiên bản vietnamgiapha-3.1.5.1.exe.
I.. Chuẩn bị : Đầu tiên ta phải lưu ảnh vào những trang web cho up ảnh. có rất nhiều trang web cho up ảnh nhưng tôi chỉ giới thiệu 2 trang thôi (một ngoại, một nội). Ngoại là : photobucket.com; nội là me.zing.vn
1) Hướng dẫn up ảnh lên photobucket:
- Vào http://ww1.photobucket.com và click nút Sign up phía trên bên phải và làm theo hướng dẫn hình ảnh sau để đăng ký và đăng nhập :
Nhập các thông tin theo yêu cầu
Click nút No thanks để xài miễn phí
  
Click nút upload để up hình ảnh  từ máy lên web
 
Click nút Select... để mở thư mục chứa hình ảnh  
Sau khi chọn những file hình ảnh cần up, nhấn Ok và chờ đợi

 Di chuột đến hình cần đưa vào vietnamgiapha, click vào Direct link để copy link sẽ sử dụng cho việc chèn hình. Nếu copy không được link thì phải chuột vào hình mà (copy link location)

2) Hướng dẫn up ảnh lên me.zing.vn : 
- Vào http://login.me.zing.vn để đăng ký và đăng nhập : Click và nút đăng ký tại đây và làm theo hướng dẫn tiếng việt. (Nếu ai không đăng ký được thì pm tôi sẽ viết một hướng dẫn bằng tiếng Anh :D)
II. Chèn hình vào Việt Nam gia phả : Có nhiều cách không biết hướng dẫn cách nào đây ta.
Mở chương trình vietnamgiapha-3.1.5.1.exe, download gia phả của mình về máy. 
- Thử chèn hình vào trang Thủy tổ :
   + Trong phần nhập nội dung cho Phả ký (hj, phả ký):
         - Cách 1: đơn giản. HTML code :  <img src="Link ảnh đã lưu trên web">
      Thí dụ : nhập <img scr="http://i1258.photobucket.com/albums/ii522/Allpicture2012/th_pengoc1-2.jpg">
Cách này cho hình tùy vào kích thước ảnh.
    - Cách 2: 
<a href="Liên kết muốn đến" target="_blank"><img src="Link ảnh đã lưu trên web" ></a>
Thí dụ : <a href="http://vovantoc.blogspot.com" target="_blank"><img src="http://i1258.photobucket.com/albums/ii522/Allpicture2012/th_pengoc1-2.jpg" ></a>
Cách này khi click vào hình ảnh thì sẽ mở đến trang web liên kết.
 
Viết tạm vậy đã, sẽ sửa lại, thêm hình ảnh cho dễ hiểu hơn. 12h15 buồn ngủ quá tối mai viết tiếp, sẽ viết về một số thủ thuật khác như là tạo chữ chạy, hiệu ứng chuột v.v...

Tài liệu làm bếp gas nhiên liệu trấu

10 bình luận

Lý do là dạo này giá Gas tăng khủng quá, nên Nghĩa đã lên internet tìm kiếm, ra một tài liệu làm bếp gas nấu bằng nhiên liệu trấu. Sau đó đã dịch sang tiếng Việt.
Xin download ở đây: http://vietnamgiapha.googlecode.com/files/BEPGASNHIENLIEUTRAU.zip

Bản quyền tài liệu là của ông Alexis Belonio, người Philippin, xem thêm ở đây:
http://www.grainard.com/helpful-tips/technology/thericehuskgasstove
http://www.khoahoc.com.vn/doisong/ung-dung/29382_Philippines-Bep-gas-dun-bang-vo-trau-than-thien-moi-truong.aspx

Loại bếp này rất giản dị thực ra nó là một loại bếp bằng kim loại, phát ra ngọn lửa màu xanh có độ trong suốt đã được phát minh và đi vào vận dụng ở Philippines và sau đó là được đem giới thiệu ở Indonesia do Alexis Belonio, một kỹ sư nông nghiệp người Philippine. Sau khi nhận được giải thưởng Rolex SS của Thụy Sĩ tại buổi lễ trao giải khá đặc biệt ở thủ đô Manila, ông Belonio phát biểu: “Bằng cách sử dụng loại thiết bị bếp gas này các nông dân trồng lúa có thể tiết kiệm một số tiền tương đương 150 USD / năm, số tiền này rẻ hơn nhiều nếu so với việc sử dụng dầu hoả hoặc khí đốt thiên nhiên qua tinh chế. Đồng thời việc sử dụng bếp gas đun bằng vỏ trấu có thể giúp cho hàng trăm triệu nông dân trên thế giới có thể sống khoẻ với mức thu nhập chưa tới 2 USD / ngày”.



Chưng mâm ngũ quả hợp phong thủy ngày Tết

0 bình luận

Ngày Tết, mâm ngũ quả được xem là quan trọng trong thờ cúng tổ tiên. Hiện có nhiều quan niệm về bày mâm ngũ quả. Những lý giải ở các góc độ khác nhau sẽ giúp có mâm ngũ quả đẹp và hợp phong thủy ngày Tết.

Ý nghĩa của mâm ngũ quả

Theo ông Lê Quang Khang, chuyên gia văn hóa, Hội Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, mâm ngũ quả ngày Tết có ý nghĩa bao trùm là thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, thể hiện lòng thành kính đối với các bậc tổ tiên. Mâm ngũ quả cúng ngày Tết cũng là yếu tố thể hiện thành quả làm việc của một năm. Ngoài ra, tùy ở những góc độ mâm ngũ quả còn có các ý nghĩa khác.

Mâm ngũ quả gồm 5 loại quả có 5 màu sắc khác nhau. Con số 5 thể hiện ước muốn của người Việt Nam mới sẽ đạt ngũ phúc lâm môn: Phú, quý, thọ, khang, ninh. 5 màu sắc thể hiện ý nghĩa nguồn của cải năm phương đưa về kính lên tổ tiên. Như nải chuối có màu xanh tượng trưng Đông phương, quả bưởi có màu vàng tượng trưng Trung phương, quả hồng có màu đỏ tượng trưng Nam phương, quả lê có màu trắng tượng trưng Tây phương và một loại quả có màu sẫm khác tượng trưng Bắc phương. Năm màu sắc này cũng tượng trưng ngũ hành trong vũ trụ là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Con số 5 trong mâm ngũ quả còn thể hiện lịch sử tín ngưỡng dân tộc. Ví dụ, đạo Phật có ngũ giới, tức 5 điều quy định của đạo Phật. Đạo Lão với ngũ hành. Đạo Khổng là ngũ thường. Nguyên nhân chọn ngũ quả thay vì chọn các yếu tố khác bởi người xưa quan niệm hoa quả có nhiều hạt, múi, chùm. Điều này thể hiện mong ước sang năm mới sẽ sinh sôi phát triển cả trong sản xuất lẫn cuộc đời.

Số chẵn và lẻ
Theo chuyên gia phong thủy Trọng Hùng, hiện nay mâm ngũ quả cũng được bày biện phù hợp với tùy từng địa phương với đặc trưng về khí hậu, sản vật và quan niệm riêng. Ví dụ, mâm ngũ quả của người Bắc bao giờ cũng có nải chuối - thể hiện sự che chở của đất trời cho con người. Nhưng người Nam lại cho rằng từ chuối có âm đọc chệch nghe giống từ "chúi", thể hiện sự đi xuống, không ngẩng lên được.

Người Nam cũng không trưng quả cam bởi câu "quýt làm cam chịu". Mâm ngũ quả của người Nam thường có các loại quả mãng cầu, sung, dừa, đu đủ, xoài (là những loại quả có âm khi đọc chệch nghe như câu "cầu sung vừa đủ xài), thêm 3 trái thơm làm chân đế thể hiện sự vững vàng. Trong khi đó, với người Bắc, hầu như tất cả các loại quả đều có thể bày trên mâm ngũ quả, kể cả quả ớt, miễn sao đẹp mắt là được.

Ngày nay, do trái cây phong phú, nhiều loại, con cháu muốn thể hiện lòng hiếu thảo đối với ông bà, tổ tiên, đồng thời cũng thể hiện tính trình bày thẩm mỹ, nên mâm ngũ quả ngày càng phong phú hơn. Người ta không câu nệ cứng nhắc là 5 quả nữa mà có thể bày đến 8, 9 hay thậm chí 10 quả, không kén chọn số chẵn hay lẻ. Và dù có bày nhiều hơn nhưng người ta vẫn gọi là mâm ngũ quả.

Nhưng với các ý nghĩa trên nên khi bày mâm ngũ quả, người ta có những quy ước dân gian. Ví dụ, mâm ngũ quả chỉ bày quả, không đặt thêm hoa hoặc thực phẩm gì. Số lượng trên mâm ngũ quả chỉ tính loại, không tính quả. Ví dụ, chuối chỉ cần một nải mà không quan tâm số lượng là 15 hay 16 quả.

Cỗ cúng tổ tiên ngày Tết

0 bình luận

Cúng tổ tiên (ngày giỗ chạp, ngày tết cổ truyền) thường sử dụng xôi đậu xanh, xôi gấc với gà luộc nguyên con hoặc chân giò. Cúng người mới mất chỉ dùng xôi trắng và một quả trứng luộc.
Đối với người Việt năm hết tết đến dù ai muốn mua gì, sắm gì trước sau cũng tập trung vào mâm cỗ tết. Cách nay chừng năm thập kỷ từ thành thị tới nông thôn, dù giầu dù nghèo thì “30 tết cũng có thịt treo trong nhà” cúng đủ 4 ngày tết. Nhà giầu thì mâm cỗ làm đủ mười món, nhà nghèo thì cũng có cái chân giò và hương hoa thắp trọn 4 ngày tết.
Ở Việt Nam không có nơi nào lại chuẩn bị mâm cỗ cúng tổ tiên và cúng gia tiên với lòng thành kính và kỹ lưỡng như người Hà Nội. Phong tục này được lưu truyền từ trên 2000 năm cho tới nay.

Khi mâm cỗ ngày tết được hoàn tất, người ta thấy từng món ăn thể hiện đầy đủ hồn dân tộc, những món ăn sang quý truyền thống của ông bà xưa được phục hồi, được sáng tạo, là dịp cho những ai đến dự cỗ trực tiếp tìm hiểu lịch sử cha ông từ văn hóa ăn uống và nghệ thuật nấu nướng qua mâm cỗ tết của dân tộc Việt.

Không có mâm cỗ nào của người Việt Nam là không được những người làm bếp bày tỏ tình cảm trân trọng của mình bằng kỹ năng chế biến các món ăn một cách nghiêm túc đến mức cầu kỳ như vậy. Thậm chí trong khi nấu cũng kiêng không nếm sợ bất kính với tổ tiên.

Người làm bếp giỏi chỉ cần ngửi hương vị thức ăn là có thể biết được đậm nhạt. Nếu muốn thử thức ăn chín tới hay quá mềm chỉ dùng đũa thử là biết. Khi đi chợ người mua cẩn thận từ cách chọn cây rau tươi ngon, cách lựa chọn gia cầm, ví như gà cúng giao thừa nhất thiết phải là trống hoa để cúng gia tiên.

Nếu gia cảnh còn khiêm tốn thì lựa chọn một cái chân giò thật ngon cũng được. Gà để nấu là loại gà đã có con rồi nhưng chưa có cháu, nghĩa là chưa già, không béo qúa thì thịt mới ngọt, nấu mới mềm.

Những loại rau, củ, quả cũng được lựa chọn thật kỹ lưỡng để nấu các món hạnh nhân, món xu hào nấu nấm tôm nõn, xu hào hoặc xúp lơ xào bóng rồi những món nấu đông, măng lưỡi lợn nấu chân giò, giò thủ, nem rán, bánh chưng xanh, dưa hành bên đĩa sôi gấc màu hoa hiên rực rỡ.

Cơm cúng thường được nấu từ gạo dự, bây giờ giống gạo đó đã bị mai một thì được thay thế bằng gạo tám thơm.

Cũng vì một niềm khát vọng nhớ mâm cỗ tết mà những người con, người cháu dù công tác hay học hành ở miền xa xôi nào, dù tàu xe khó khăn đến đâu cũng ráng thức đêm thức hôm mua được tấm vé để về dự.

Cũng vì mâm cỗ cúng tổ tiên ngày tết mà không ít Việt kiều vượt xa hàng vạn dặm để về quê hương, để được chắp tay trong khói nhang trầm, để được khấn nguyện chân thành trước bàn thở gia tiên, để được thấy những sắc màu của dân tộc mình trên mâm cỗ ngày tết.

Được giao hòa trong tình cảm gia đình dưới mái ấm, bởi tình cảm ấy không thể mua được bằng đồng mỹ kim trên sứ người. Bởi chỉ có người Việt hiểu rõ hơn ai hết về chân giá trị mâm cỗ tết của người Việt Nam, mâm cỗ ngày tết không cho phép lai căng bất cứ dân tộc nào để tỏ lòng thành kính sâu sắc và thiêng liêng với tổ tiên.

Sau khi cúng tổ tiên và cúng gia tiên trong ngày tết, từ người lớn tuổi cho tới đứa trẻ nhỏ tuổi nhất cũng đều khoác trên mình trang phục đẹp nhất. Ngồi với mâm cỗ, mọi người sẽ được lắng nghe đầy đủ cung bậc cảm xúc của người thân, được hiểu biết mọi thông tin vui, lạ mà những thông tin đại chúng chưa biết tới. Những trận cười ròn tan, những cái dướn chân mày sửng sốt, những câu chúc mừng sự thành đạt của con, cháu, những lời dạy bảo của người trên có giá trị hơn bất cứ loại sách vở nào.

Dẫu không khí ăn tết trong thời nay có dư vị khác xưa, nhưng chữ trung chữ hiếu, dạy con cháu tự lập, cần kiệm, nhẫn nại trên con đường lập nghiệp, coi trọng đạo đức để sau này tiếp tục giáo dục lại đời sau.

Mâm cỗ cúng tổ tiên biểu hiện nếp sống đạo đức, gia phong, là đạo lý, là di sản văn hóa về lễ giáo trong gia đình dòng tộc rất giá trị đã được cộng đồng người Việt Nam lưu truyền cho tới nay.

Con cháu tụ hội quanh mâm cỗ ngày tết không đơn thuần được thưởng thức miếng ngon xưa ông, bà, cha, mẹ đã từng nấu mà còn là cơ hội được chứng tỏ mình vẫn tròn chữ hiếu, không làm rơi rớt chữ lễ và không làm mai một chữ nghĩa. Dù con đường mưu sinh gập gềnh, khúc khuỷu mình vẫn không thể dừng chân.

Cho nên, chính gia đình là nơi mình tìm lại chính mình. Bởi gia đình là nơi bắt đầu nguồn sống và đào tạo cho mình là con người hoàn chỉnh để trở lại cuộc sống. Gia đình cũng là nơi giúp cho mỗi người tự hoàn thiện mình, giúp cho mình giữ được chữ thiện, chữ tâm làm gốc.

Đó là nguyên nhân mà mọi thành viên trong gia đình luôn luôn trở về dưới mái ấm trong ngày tết cổ truyền để được quây quần bên mâm cơm cúng gia tiên.

Người Sài Gòn ăn tết đơn giản hơn, không cầu kỳ như kinh kỳ. Nhà thì kho thịt, kho cá chép, chiên chả giò, chiên lạp sường, nem nướng, heo quay, vịt quay, bắp bò hầm thuốc bắc, bánh tét, bánh in (sôi nén khuôn).

Cũng có ngũ quả cúng gia tiên nhưng mỗi trái đều phải có ý nghĩa cầu may như : Đu đủ để quanh năm no đủ, trái xoài là có đủ xài, trái sung để mong sung túc, trái thơm là luôn được thơm tho, dưa hấu để quanh năm đỏ như son mà phải mua cả cặp đều nhau, nếu nhà ít người thì cúng một trái cũng được sao cho đủ nghĩa “Cầu - Vừa - Đủ - Xài”, mặt trước trái dưa được dán chữ Phúc hay Đại cát, Đại lợi hoặc 3 chữ Phúc Lộc Thọ bằng chữNho lồng vào nhau. Bàn thờ vào ngày Tết đầy ắp ngôn ngữ tâm linh.

Dù là mâm cỗ của người Hà Nội hay người Sài Gòn hoặc các tỉnh thành hay các miền trong cả nước có khác nhau về hình thức nhưng vẫn biểu hiện lòng thành kính thiêng liêng dâng lên tổ tiên, để con cháu thấy đó mà nhớ đến nguồn cội ông bà mà tâm niệm với tấm lòng hiếu thảo với gia đình với mọi hành động và việc làm của mình với xã hội.

Để rồi cứ luân hồi, năm hết tết đến mọi người lại trở về với mâm cỗ ngày tết thân thuộc từ hàng ngàn xưa tới nay, đã chiếm một vị trí quan trọng trong mỗi gia đình dân tộc Việt Nam.

Cách bài trí bàn thờ Tổ tiên ngày Tết

0 bình luận

Chăm chút bàn thờ là cách để con cháu bày tỏ lòng yêu kính và tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên, vì thế, mỗi độ năm hết, Tết đến công việc này được mọi người chú ý trước tiên.

Thờ phụng tổ tiên là một trách nhiệm có tính cách luân lý đối với người Việt Nam, nó thể hiện cho nhu cầu được phát lộ tình cảm và niềm tin huyết thống trong môi trường gia đình.

Giữ bàn thờ sạch bày tỏ lòng hiếu kính
Bàn thờ là nơi ngự vị của các bậc tiền nhân trong gia đình, vì thế nó thường được đặt ở vị trí trung tâm và cao nhất trong nhà. Điều này không chỉ để tránh sự va chạm mà còn tránh gió, bụi bặm và côn trùng. Việc lau dọn sạch sẽ bàn thờ là công việc trước tiên và được thực hiện một cách cẩn thận, tỉ mỉ.

Công việc chăm chút bàn thờ là cách để con cháu bày tỏ lòng yêu kính và tưởng nhớ đế ông bà tổ tiên

Chổi quét hoặc khăn lau bàn thờ thường được dùng riêng, và rất hạn chế sự chung đụng. Nước lau bàn thờ thường được dùng từ nguồn nước sạch sẽ, có người còn dùng nước mưa thậm chí nước nấu từ lá trầu, lá bồ đề để lau.

Trong tâm thức người Việt, người đã khuất và người còn sống luôn có một mối quan hệ mật thiết với nhau. Không gian thờ tự là không gian thiêng liêng trong gia đình, là nơi lưu giữ nhiều ẩn ức tình cảm giữa các thế hệ, chính vì thế việc giữ gìn bàn thờ luôn sạch sẽ, mát mẻ không chỉ thể hiện sự chăm sóc và tôn kính của con cháu đối với ông bà tổ tiên mà còn là sự chăm sóc đến cái tôi tâm linh ở mỗi con người.

Không phải đợi lúc năm hết tết đến, nhân dịp giỗ chạp hay vào những ngày sóc vọng, người ta mới dọn dẹp và chăm chút bàn thờ. Tuy nhiên, phải vào những ngày cận Tết, chúng ta mới thấy hết được không khí bận bịu, tất bật của việc dọn dẹp và chuẩn bị sắm sửa đồ thờ.

Từ việc đánh sáng lại bộ tư đồng, lau chùi khung ảnh, thay cát bát hương (nhang)… đều thể hiện cho nhu cầu giao hòa, gắn kết mật thiết giữa thế giới hữu tình và thế giới tâm linh thiêng liêng.

Công việc quét tước nhà cửa thường là việc của phụ nữ trong nhà vì nó đòi tính cẩn thận, tỉ mỉ. Song việc bày bàn thờ ngày Tết lại được ưu ái dành cho quý ông, đơn giản vì việc ấy nặng nhọc hơn. Hơn thế, người đàn ông là chủ gia đình, phải đại diện chăm lo nơi cư ngụ của tổ tiên để tỏ lòng hiếu kính.

Phụ nữ trong nhà thì lo việc bếp núc, nấu nướng và dọn dẹp gian bếp. Đó là cách nhìn từ văn hóa truyền thống xưa kia. Ngày nay, nhất là nơi đô thị, chúng ta không còn phân biệt rạch ròi việc này như trước.

Việc bày biện hay thắp hương (nhang) trên bàn thờ không phân biệt nam nữ, tuổi tác như ở thôn quê. Tuy nhiên, để giữ nếp xưa, mọi nhà vẫn mời người lớn tuổi nhất họ hay nhất nhà ra khấn và thắp hương cho ông bà tổ tiên trong những ngày quan trọng như: tất niên, đêm giao thừa, mừng năm mới, cúng tiễn…



Chu đáo bày biện, lễ cúng
Trong gia đình Việt Nam ngoài việc chọn lựa vị trí trung tâm và cao ráo để đặt bàn thờ, người Việt còn chú ý xem hướng của ngôi nhà và tuổi của gia chủ để thấy nên đặt bàn thờ quay mặt về hướng nào là tốt nhất.

Việc dọn dẹp hay bày biện bàn thờ vào ngày thường có thể qua loa, sơ sài vì lý do bận bịu làm ăn, thu vén tiền bạc… Song vào những ngày Tết, công việc này được yêu cầu có sự chu đáo nhất định.

Trên bàn thờ tổ tiên, ở chính giữa đặt bát hương (tượng trưng cho tinh tú) và trên bát hương có cây trụ để cắm hương vòng (tượng trưng cho trục vũ trụ), hai bát hương khác đặt ở bên trái và bên phải tạo nên tư thế tam tài; ở hai góc ngoài bao giờ cũng có hai cây đèn dầu (hoặc nến) tượng trưng cho mặt trời bên trái và mặt trăng ở bên phải.

Khi cần giao tiếp với tổ tiên (có lúc thỉnh cầu, có lúc sám hối… người ta thường đốt nến (đèn dầu) và thắp hương. Mọi nguyện cầu theo các vòng khói hương chuyển đến ông bà tổ tiên.

Lễ vật dâng cúng thường bao gồm vài bộ quần áo, giấy tiền vàng mã cho các cụ, một vài cái chung (ly nhỏ, thấp) và một bình trà; đĩa hoa quả lớn đặt ở trung tâm bàn thờ, một bình hoa lớn và một bình rượu ngon. Xung quanh, ta có bày thêm bánh mứt cho cân đối và đẹp mắt.

Hoa để thờ cũng có nhiều loại, ví dụ hoa tươi hay hoa làm bằng giấy bạc (một bạc, một vàng biểu tượng cho một âm một dương, âm dương giao hòa) để có thể dùng được lâu. Đối với hoa tươi, người Việt Nam thường sử dụng hoa cúc, hoa huệ, hoa lay ơn, hoa mai, hoa đào trong cúng gia tiên ngày Tết…

Khoảng sáng 30 Tết, việc bày biện bàn thờ Tết phải được hoàn tất. Tuỳ theo điều kiện kinh tế hay văn hóa từng miền mà trên bàn thờ có thêm cặp dưa hấu xanh, gói thuốc lá, cặp bánh chưng hay bánh tét…

Việc thắp sáng cho bàn thờ ngày Tết cũng được bắt đầu từ ngày 30. Có nhà sử dụng loại hương vòng, hay hương que loại lớn, cháy liên tục trong nhiều ngày với nhiều ý nghĩa biểu trưng như các vì tinh tú đang tỏa sáng, sự chăm lo ân cần của con cháu…

Hương khói còn tạo nên một không khí ấm cúng nơi gian thờ, gắn kết tình cảm và ước nguyện hạnh phúc của mọi người trong một gia đình. Hương dùng cho những ngày Tết cũng thường là các loại hương có mùi thơm đặc biệt ví dụ như hương bài, hương trầm, hương nhài… là những loại hương có mùi thơm hết sức đặc trưng cho nhân dân ba miền ở Bắc - Trung - Nam.

Mâm ngũ quả ngày Tết.
Việc bày mâm ngũ quả xuất phát từ lý thuyết về ngũ hành: thuỷ - hỏa - mộc - kim - thổ những yếu tố tạo nên vũ trụ và sự vận hành của nó. Thông thường ngũ quả gồm 5 loại quả có các màu khác nhau như chuối xanh, bưởi vàng, hồng đỏ, lê trắng, quýt da cam tượng trưng cho mong ước: Phú (giàu có) - quý (sang trọng) - thọ (sống lâu) - khang (khỏe mạnh) - ninh (bình yên).



Mỗi một miền lại có một quan niệm riêng về ý nghĩa mâm ngũ quả. Người Nam bộ có cách đọc chại âm hay đơn tiết hóa một số từ, ví dụ chỉ tên trái mãng cầu thì gọi đơn tiết hóa là Cầu (mãng cầu: thoả mãn trong sự cầu xin) - Sung (sung: chỉ sự sung túc, sung mãn) - Vừa (đọc chệch âm là dừa: quả dừa) - Đủ (đơn tiết hóa của đu đủ và xài (là cách đọc chệch của âm xoài).Trong khi đó, người miền Bắc hướng đến ý nghĩa biểu trưng nhiều hơn, quả phật thủ hay nải chuối như bàn tay che chở của đức phật cho tất cả mọi người; quả bưởi, dưa hấu thể hiện cho sự đầy đặn, trọn vẹn căng đầy sức sống; màu sắc thắm tươi của quýt, hồng tượng trưng cho sự may mắn, phồn thịnh cát tường.

Ngày nay, mâm quả trên bàn thờ tết người Việt phong phú hơn về chủng loại bởi sự góp mặt của những hoa quả ngoại nhập. Với tính dung hợp trong văn hóa, người Việt Nam luôn có thể tìm thấy tất cả những yếu tố thích hợp, có giá trị ý nghĩa đối với đời sống tâm linh của dân tộc mình.

Cuối cùng, những sản vật đẹp mắt nhất, tinh tuý nhất, được dâng bày với những tình cảm hiếu kính, trang trọng và thiết thân nhất. Bàn thờ tết không chỉ là nơi mà mọi người bày tỏ tình cảm gia đình, huyết thống mà đó còn là nơi chúng ta gửi gắm những lời chúc may mắn và một năm mới an khang, thịnh vượng hơn.

Theo MTVN/GĐN


Bộ Tranh Việt Nam Anh Hùng Dân Tộc

2 bình luận

Copy từ http://www.ttxva.org/bo-tranh-viet-nam-anh-hung-dan-toc/


Mẹ Âu Cơ bảo vệ lãnh thổ! Y phục dựa theo y phục đồng bào miền núi và vương miện trên trống đồng. Quyền trượng có hoa sen làm đài nâng 2 nhành lúa trĩu hạt bao quanh bản đồ Việt nam – tượng trưng cho dân tộc Việt nam. Tranh vẽ theo lối fantasy và vẽ nhân dịp đồng bào biểu tình chống Trung Cộng tại Sài gòn và Hà nội tháng 5, và 6, 2011

Cha Lạc Long Quân bảo vệ lãnh hải! Tranh vẽ theo lối fantasy và vẽ nhân dịp đồng bào biểu tình chống Trung Cộng tại Sài gòn và Hà nội tháng 5, và 6, 2011. Cha Lạc Long Quân cầm giáo loại săn cá của ngư dân. Bán thân là rồng.

Hai anh em dũng tướng nhà Lê là Đinh Lễ – Đinh Liệt. Tranh vẽ theo lối truyện tranh tân thời với hai con hổ tượng trương cho hai mãnh hổ tướng Đinh Lễ, Đinh Liệt.

An Dương Vương Thục Phán chém yêu tinh gà trắng xây thành Cổ Loa với sự trợ giúp của thần Kim Qui. Gà trắng có lúc là biểu tượng của Tàu. Tranh vẽ theo lối fantasy art. Y phục của An Dương Vương phỏng tác theo hình ghi khắc trên trống đồng.

Bùi Thị Xuân tại pháp trường. Tranh ghi nhận lại phút oanh liệt của bà. Nhưng thể hiện theo lối fantasy art và luật phối cảnh của truyện tranh hiện đại với hàm ý bà như đã hoàn thành xong vai trò và nhẹ nhàng, thanh thản trở về trời.

Chinh phụ tiễn chồng tòng chinh – Lệnh vua hành quân trống kêu dồn, Quan với quân lên đường, Đoàn ngựa xe cuối cùng, Vừa đuổi theo lối sông. Phiá cách quan xa trường, Quan với quân lên đường, Hàng cờ theo trống dồn Ngoài sườn non cuối thôn, Phất phơ ngập trời bay….(Hòng Vọng Phu 1)

Chinh Phụ bế con trông chồng với bối cảnh thác Bản Giốc Cao Bằng, đây cũng là nơi có đá Vọng Phu – Có ai xuôi vạn lý nhắn đôi câu giúp nàng, Lấy cây hương thật quý, thắp lên thương tiếc chàng. (Hòng Vọng Phu 2)

Đặng Dung dưới trăng mài gươm là một hình ảnh bi hùng trong lịch sử và thi ca (qua bài thơ Thuật Hoài nổi tiếng của ông) Tranh vẽ theo lối phối cảnh truyện tranh hiện đại. Hình ảnh thân thể Đặng Dung lực lưỡng tráng kiện không chỉ miêu tả ông thực vốn là người giỏi võ nghệ mà còn ý kêu gọi người Việt nam phải văn võ song toàn. (body and mind)


Đặng Tất – Tướng tài đời hậu Trần (cha của Đặng Dung) Ông đã lãnh đạo quân đội nhà hậu Trần đánh tan quân Minh tại trận Cô Bô – 1 chiến tích oanh liệt của ông. Tranh vẽ lại cảnh Đặng Tất tại Cô Bô. Y giáp dựa vào y giáp nhà Trần.

Đinh Tiên Hoàng Đinh Bộ Lĩnh được biết tới tài năng quân sự khi còn nhỏ tuổi đã bày trò cỡi trâu đánh trận. Tranh vẽ theo lối fantasy art với ý tưởng đưa hình ảnh cỡi trâu và cờ lau gắn bó với Đinh Bộ Lĩnh. Tranh cũng muốn đưa ý niệm thần thánh hóa những anh hùng lịch sử Việt nam, không chịu thua kém Trung Hoa.

Đinh Công Tráng và Phạm Bành cùng nghĩa quân tại căn cứ Ba Đình được bao bọc bởi lũy tre dày. Lá cờ của triều Nguyễn và phong trào hưởng ứng hịch Cần Vương.

Vua Gia Long Nguyễn Ánh – Thống nhất đất nước sau bao năm dài gian khổ chiến tranh, nội chiến. Tranh vẽ theo di ảnh của ông. Dùng bối cảnh kinh thành Huế vì ông lập kinh đô tại Huế (giảm thanh thế của Thăng Long) và ảnh bản đồ đất nước vào triều đại của ông. Hai chữ Việt Nam tên đất nước cũng từ triều của ông mà có tới nay.

Hồ Quý Ly và con Hồ Nguyên Trừng. Thời đại nhà Hồ được biết đến bởi Những cải cách mới và nhất là sự phát minh súng thần cơ (hỏa pháo cải tiến) và thuyền cổ lâu (thuyền chiến lớn có hai tầng)

Hoàng Diệu trong trận tử chiến giữ thành Hà Nội. Di ảnh của ông được dùng trong tranh. Bộ y giáp của triều Nguyễn còn lưu lại tại viện bảo tàng. Cảnh Pháp đánh thành Hà Nội phỏng theo tranh vẽ của sách sử của Pháp

Hùm Thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám. Dùng di ảnh thật của ông đưa vào tranh.

Hội Nghị Diên Hồng
Tranh thể hiện tinh thần quật khởi, bất khuất và yêu độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Tiếp nối truyền thống anh hùng. Tranh thể hiện tráng sĩ Sát Thát trao lại thanh giươm bảo quốc trừ dân cho thế hệ trẻ ngày nay.

Vua Hùng. Biểu tượng của nền văn minh lúa nước và đồ đồng thời đại nhà nước Văn Lang.

Công chúa Huyền Trân. Một cuộc hôn nhân đổi lấy bờ cõi từ Chiêm Thành cho Đại Việt. Cảnh vẽ công chúa Huyền Trân tại Chiêm Thành chuẩn bị cho hôn lễ, lòng buồn hướng về quê hương

Khúc Thừa Dụ và Khúc Hạo được xem có công trong việc cải cách hành chính và đặt cơ sở cho nền độc lập sau này. Y phục vẽ theo tượng của hai vị tại đền thờ.

Lạc Long Quân và Âu Cơ. Tranh vẽ theo lối fantasy art với Lạc Long Quân nửa người là thân rồng. Tay ông cầm loại giáo thường dùng của ngư dân (thuận theo thuyết ông dắt 50 con mở mang miền biển) Y phục của Âu Cơ dựa vào hình vẽ trên trống đồng và của người Tây Nguyên. Tay cầm bó lúa tượng trưng cho ngành trồng trọt, nông nghiệp (thuận theo thuyết bà dắt 50 con mở mang trên đất liền) Hình ảnh bông lúa cũng hàm ý nói đến nền văn minh lúa nước Hòa Bình

Lê Chân – Một trong những nữ anh thư lừng danh nước Việt. Bà là người có nhan sắc, giỏi võ nghệ lại có tài thơ phú. Bà được Trưng Vương phong là Thánh Chân công chúa và bà rất giỏi thủy chiến. Tranh vẽ theo lối fantasy một trận thủy chiến của bà.

Lê Đại Hành Lê Hoàn – Vẽ theo lối fantasy art. Ông từng trông giữ thập đạo quân (thập đạo tướng quân) dưới thời vua Đinh. Cho nên tranh vẽ với bối cảnh đoàn hùng binh. Phía trên có rồng hiện ra tượng trương cho sự trỗi dậy của một Đại Cồ Việt. Các cờ hiệu lấy từ các linh vật được tạo ra trong khu đền thờ thời tiền Lê và tiền Lý.

Lê Lai dũng cảm mặc áo bào của Lê Lợi đột phá vòng vây của quân Minh

Vua Lê Thái Tổ Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh. Tranh vẽ theo lối fantasy art. Có thần Kim Qui dâng Thuận Thiên Kiếm. (Trên mai rùa có ký hiệu của Ngũ Hành Âm Dương: gợi ý về các khám phá hiện nay cho thấy thuyết này cũng có phần bắt nguồn từ Việt nam). Trong tranh có các chiếc lá với dòng chữ “Lê Lợi Vi Quân, Nguyễn Trãi Vi Thần” theo kế sách của Nguyễn Trãi

Lê Văn Duyệt – người có công mở mang đất đai nông nghiệp vùng miền nam. Ông là người điều hành việc đào kênh Vĩnh Tế.

Lý Nam Đế Lý Bí và Triệu Quang Phục. Y giáp được phỏng theo các tranh vẽ thường thấy của họa sĩ Việt nam

vua Lý Thái Tổ nằm mộng thấy rồng bay – dời kinh đô và đặt tên là Thăng Long. Tranh vẽ theo lối fantasy art với một số đặc trưng của Thăng Long

Lý Thường Kiệt và bài thơ Nam Quốc Sơn Hà bản dịch của Việt Toon – Hình Lý Thường Kiệt được phỏng theo các pho tượng Hộ Pháp Thần tại chùa cổ Việt Nam. Ví ông cũng như các vị anh hùng Việt nam là những vị thần thánh giáng trần bảo vệ non sông. Bức tranh này được làm đặc biệt để yểm trợ tinh thần yêu nước, gìn giữ giang sơn tổ tiên đặc biệt hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Lý Thường Kiệt và bài thơ Nam Quốc Sơn Hà bằng tiếng Hán – Hình Lý Thường Kiệt được phỏng theo các pho tượng Hộ Pháp Thần tại chùa cổ Việt Nam. Ví ông cũng như các vị anh hùng Việt nam là những vị thần thánh giáng trần bảo vệ non sông.

Lý Thường Kiệt và bài thơ Nam Quốc Sơn Hà bằng tiếng Hán, với bối cảnh trận chiến tại Như Nguyệt, nơi ông sử dụng bài thơ để khích lệ lòng quân – Hình Lý Thường Kiệt được phỏng theo các pho tượng Hộ Pháp Thần tại chùa cổ Việt Nam. Ví ông cũng như các vị anh hùng Việt nam là những vị thần thánh giáng trần bảo vệ non sông

Mai Hắc Đế Mai Thúc Loan. Vẽ theo lối fantasy art. Y phục Mai Hắc Đế theo y phục của người Tây Nguyên. Ông mạng Thủy nên dùng màu đen và cỡi trên lưng con Huyền Vũ. Gợi ý niệm về Kinh Dịch / Ngũ Hành mà theo một số học giả ngày nay phát hiện cũng có phần khởi xuất từ Việt nam. Trong tranh là thác Bản Giốc. Thác nước của Việt nam

Ngô Vương Ngô Quyền và trận đánh đi vào lịch sử trên sông Bạch Đằng. Tranh vẽ theo lối fantasy art và luật phối cảnh của lối truyện tranh mới. Y giáp được dựa theo một số tranh cổ và sự tưởng tượng. Bàn tay vung ra nắm đấm với ý nói: sẽ đập tan mọi cuộc xâm lược.

Chúa Nguyễn Hoàng (triều Nguyễn) người có công khai phá, mở rộng bờ cõi đất nước xuống phía Nam. Tranh miêu tả chúa Nguyễn cùng dân di cư xuống miền Nam. Y phục dựa theo tượng của ông tại đền thờ.

Nguyễn Huỳnh Đức. Ông là một trong những hổ tướng của vua Gia Long (Ngũ hổ tướng Gia Định). Cảnh vẽ Nguyễn Huỳnh Đức đã dũng cảm cứu Nguyễn Ánh khi ông bị quân Tây Sơn vây (lúc Nguyễn Ánh còn trẻ) Trong rừng sâu, Nguyễn Ánh đã gối đầu lên đùi Nguyễn Huỳnh Đức ngủ vì tin cậy vào vị tướng này

Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi tại ải Nam Quan. Không chỉ nói về giai thoại Nguyễn Phi Khanh buộc Nguyễn Trãi quay về tìm cách phá giặc cứu nước mà còn muốn lồng vào tranh hình ảnh ải Nam Quan thuộc chủ quyền Việt nam. Bàn tay chỉ của Nguyễn Phi Khanh cũng nhấn mạnh ý này

Nguyễn Thiện Thuật cùng nghĩa binh căn cứ Bãi Sậy trong cuộc kháng chiến chống Pháp, hưởng ứng Hịch Cần Vương. Tranh vẽ mô phỏng theo di ảnh của ông

Nguyễn Trãi sau khi đại thắng quân Minh đang thanh thản gát kiếm viết lại bài Cáo Bình Ngô lừng danh. Tranh vẽ theo lối fantasy art. Dòng chữ viết thẳng lên trời như là những dòng thiên thư. Bối cảnh là một phần vách núi ảnh thật của ải Chí Linh nơi quân Lam Sơn đánh tan tác quân Minh. Trong tranh còn có cây vải và con rắn gợi ý tới vụ án “Lệ Chi Viên” sau này của ông

Nguyễn Tri Phương đôn đốc quân chống giặc Pháp đang tấn công thành – Tranh vẽ dựa theo di ảnh chân dung của ông

Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân cải trang thương buôn đột kích đốt cháy tàu Pháp trên sông Vàm Cỏ. Di ảnh chân dung ông được dùng trong tranh và các bó đuốc lá dừa đặc trưng của miền Nam

Nguyễn Xí – Một trong những khai quốc công thần của nhà Hậu Lê

Phạm Ngũ Lão đan sọt bên vệ đường. Bối cảnh kiến trúc lấy từ khu lăng tẩm lịch sử của nhà Trần

Phan Đình Phùng và Cao Thắng. Hình vẽ được họa theo di ảnh của Phan Đình Phùng. Cao Thắng bên cạnh, tay cầm súng trường vì ông là người đã sáng chế súng cho nghĩa quân

Phùng Hưng – Bố Cái Đại Vương. Tranh vẽ theo truyền thuyết ông đánh hổ dữ.

Phùng Thị Chinh – một nữ tướng thời Hai Bà Trưng. Tương truyền bà vừa sanh xong đã dẫn quân đánh giặc. Tranh vẽ theo lối fantasy art và ronmanticism, một tay bồng con, một tay cầm kiếm đôn đốc quân sĩ tiến lên.

Quang Trung Nguyễn Huệ đang tiến quân đánh phá giặc Thanh vào dịp tết (có cành đào đất Bắc) Bộ trống trận danh tiếng của nghĩa quân Tây Sơn. Hình ảnh Nguyễn Huệ được vẽ theo các di ảnh còn lưu lại.

Tháng Gióng – Cỡi ngựa sắt phun lửa

Tô Hiến Thành – Chống Chân Lạp xâm lược, chinh phạt Chiêm Thành

Tống Duy Tân – Tranh vẽ dựa theo di ảnh của ông

Trần Bình Trọng thà chết không hàng. Với lối vẽ fantasy art muốn đưa ý niệm “Sinh vi tướng, tử vi thần” của các anh hùng Việt nam. Khi họ chết hồn phách tạc vào non sông để bảo vệ đất nước. Hình ảnh mãnh hổ như “chúa tể sơn lâm” và cũng là hình ảnh dùng chỉ cho các vị tướng sóai (hổ tướng). Bức gông xiềng vươn dậy từ núi rừng = nước Việt Nam dù bị cai trị ngắn hay dài rồi cũng sẽ có ngày bùng lên quật khởi

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đang viết bài hịch lưu truyền muôn đời: Hịch Tướng Sĩ. Phía sau là bối cảnh trận đánh oanh liệt tại sông Bạch Đằng. Y giáp phỏng theo tượng ông tại Sài gòn và tranh vẽ trên tiền của Việt Nam Cộng Hòa

Trần Nguyên Hãn – danh tướng của khởi nghĩa Lam Sơn, có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đánh thắng quân Minh xâm lược và lập thành nhà Hậu Lê. Tranh phỏng theo tượng Trần Nguyên Hãn trước chợ Bến Thành.

Trần Nhật Duật – danh tướng nhà Trần. Tranh miêu tả trận đánh oanh liệt đi vào lịch sử của ông – trận Hàm Tử

Trần Quang Diệu – Một trong những mãnh tướng trụ cột của nhà Tây Sơn (Tây Sơn thất hổ tướng). Tranh vẽ theo lối hiện đại phỏng theo di tượng của ông tại đền thờ

Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải đang điều quân tại trận thủy chiến lừng danh: Chương Dương. Y giáp dựa vào y giáp của Trần Hưng Đạo nhưng chọn vải cá để nhấn mạnh về cuộc thủy chiến quan trọng này

Trần Quốc Toản tay bóp nát trái cam khi không được tham dự hội nghị quân sự cao cấp tại Bình Than

Dạ Trạch Vương Triệu Quang Phục. Vua đầm lầy! Tranh vẽ theo lối fantasy art với hình ảnh một Xà Vương theo phò giúp Triệu Quang Phục (đầm Dạ Trạch có nhiều rắn là một yếu tố gây trở ngại cho các cuộc tấn công của giặc)

Bà Triệu – Tranh vẽ theo lối fantasy art thể hiện lời nói hào hùng của bà “đạp sóng dữ, chém cá kình”. Trong bức vẽ này dùng y phục của bà theo y phục thường thấy của tranh vẽ tiên nữ, cũng với ý niệm các anh hùng Việt nam cũng như thần tiên giáng trần

Bà Triệu – Tranh vẽ theo lối fantasy art thể hiện lời nói hào hùng của bà “đạp sóng dữ, chém cá kình”. Trong bức vẽ này dùng y phục của bà theo y phục áo dài khăn đóng

Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định – Vẽ phỏng theo di ảnh của ông

Việt Nam Anh Hùng – Con Rồng Cháu Tiên – Trai Gái Tài Sắc Vẹn Toàn – Tinh Thần Đại Việt Trường Tồn

Việt Nam Anh Hùng – Con Rồng Cháu Tiên – Trai Gái Tài Sắc Vẹn Toàn

Võ Đình Tú. Một trong Tây Sơn thất hổ tướng. Ông còn được biết đến bởi tài nghệ sử dụng côn thật giỏi nên có danh gọi là “Côn Thần Võ Đình Tú”. Cảnh vẽ lại ông đã múa côn đỡ gạt mưa tên của quân Nguyễn Ánh khi quân đội của ông bị tấn công.
Không một mủi tên nào phạm được vào người ông. Y giáp dựa theo y giáp các tượng thờ ngũ hổ tướng nhà Tây Sơn

Yết Kiêu – Ông là một gia tướng giỏi của Trần Hưng Đạo, có biệt tài bơi lặn. Tranh vẽ lại hình ảnh một trận chiến của ông.
Ông là một gia tướng giỏi của Trần Hưng Đạo, có biệt tài bơi lặn. Tranh vẽ lại hình ảnh một trận chiến của ông


Hai Bà Trưng cưỡi voi chín ngà với trống đồng và biểu tượng mặt trời mọc